RSS

Chiếc Bookmark

31 Dec

Tuliphantragiang

Anh để mắt đến tôi vào một buổi chiều tôi trốn giờ Văn Học Việt Nam của giáo sư Phạm Mậu Thành, lên giảng đường A24 xem Anh thi đấu tranh giải ba-tư  bóng bàn sinh viên toàn quốc năm 1993. Tôi đến đó để ủng hộ anh Nhựt, một sinh viên khoa vật lý của trường tôi, Trường Đại Học Đà Lạt, còn Anh, Anh đến từ trường Đại Học Kinh Tế, Sài Gòn.

Những tưởng chỉ có sinh viên khoa quảng trị mới rãnh rỗi đến xem, nào ngờ, cổ động viên khoa Lý và khoa Văn ngồi chầu chật ních hội trường. Tôi cũng tìm cho mình được một chỗ ngồi tôi cho là an toàn. Trận đấu bắt đầu, anh Nhựt được sự cổ vũ  nhiệt tình của toàn bộ sinh viên Đại Học Đà  Lạt. Tôi tội nghiệp cho Anh chàng sinh viên trường Đại Học Kinh Tế. Mỗi khi Anh ghi bàn thắng, chỉ lẽ tẻ tiếng vỗ tay của đồng đội Anh, tôi lại cổ vũ  Anh. Tôi nhận ra được niềm vui trên gương mặt đó. Nụ cười và ánh mắt ấy nhìn tôi ngầm muốn nói “cảm ơn cô”. Còn tôi, khi trận đấu đi đến giai đoạn căng thẳng nhất, đã  bị sinh viên chính khoa mình xô ngã ra khỏi băng ghế, hình phạt của sự “phản bội” không ủng hộ đội nhà. Tôi bò dậy nhún vai, chau mày lúng túng trước cái nhìn có chút thương hại vừa cảm thông của Anh. Thật sự, tôi ủng hộ cả hai. Tôi chỉ không nhẫn tâm chấp nhận sự cổ võ rầm trời chỉ dành cho anh Nhựt, trong khi Anh là cầu thủ vượt trội hơn rất nhiều.

Cuối cùng, đúng như  tôi vừa dự đoán vừa mong đợi, giải ba thuộc về trường Đại Học Kinh Tế. Mọi người hụt hẫng chạy như  điên về giảng đường của khoa mình. Chẳng giống tôi thường nhật, hôm đó tôi bước ra với tốc độ rùa bò. Chàng sinh viên kinh tế bước vội đến bắt tay tôi “cảm ơn cô”, tôi đáp lại “chúc mừng Anh”. “Hôm trước cô chỉ đường cho Anh lên Năng Tỉnh gì đó phải không?”. “Là Anh đó à?” “phải”, “sao kỳ vậy”, tôi nghĩ  thầm. Anh chàng sinh viên hôm trước gương mặt khờ khạo ngớ ngẩn lắm kia mà. Bây giờ thì lại là một người khác hẳn, đôi mắt sáng như  quắt vào mắt tôi. Tôi bắt đầu nhớ lại.

Hôm thứ Hai, lúc quá trưa, tôi dán mắt xuống con đường dốc, đi nhanh về phía giảng đường A7 cho kịp giờ Ngôn Ngữ Học. Đột nhiên Anh gọi tôi “cô ơi”, tôi thắng lại suýt chạm vào người Anh, nhìn lên “có việc gì ạ?” “cho tôi hỏi đường đến địa điểm tập trung của các cầu thủ bóng bàn?”. Tôi nghiêng người đưa tay chỉ lên hướng Năng Tỉnh “Anh đang đứng trước nó rồi, lên khỏi bậc thang này Anh sẽ đến Năng Tỉnh?”.  “Năng Tỉnh?”,  “người ta gọi thế, còn vì sao tôi không biết.” “à, này cô” “còn gì nữa ạ” “cô tên gì, sinh viên khoa nào vậy?” “Diễn Chinh. Văn, khóa 15” “cảm ơn cô”. Rách việc tôi rồi. Tôi phải đi như chạy về giảng đường mới kịp. Thầy Phạm Quang Trung ghét nhất là sinh viên đi trễ dù chỉ dăm ba phút. Khi rẽ xuống một con dốc khác, tôi nhìn lên, Anh còn đứng tần ngần giữa bậc thang đó, có vẻ như đang ngắm và chụp hình mấy cây Mimoza cùng Hoa Anh Đào đang lát đát nở đầu Xuân.

Tôi trở về thực tại, nhìn Anh, “Lê Trung Thành”, “sao cô biết tên tôi?” “Anh tự suy nghĩ lấy”,  “à…”. Lại ngớ ngẩn rồi Anh ạ, có lẽ nào tôi trốn học đi xem thi đấu bóng bàn mà lại không biết tên hai cầu thủ. “Quên tên tôi rồi phải không?” “còn nhớ, Diễn Chinh, Văn, khóa 15”. Trí nhớ Anh không tệ. “Tối nay tranh giải nhất-nhì trên lầu hội trường này…”, “Giảng đường A24”. Tôi xen vào sửa lưng Anh. “À, giảng đường A24, em đến cổ vũ  cho trường Anh nhé.” Tôi đáp lại bằng một cái nhìn dấu chấm hỏi, “bạn Anh sẽ gặp đội Hàng Hải”. Tôi nhìn Anh vì Anh chuyển hệ từ “cô” sang “em” vô phếp tắc chứ không phải để nghe giải thích “bạn Anh gặp đội Hàng Hải ”, điều đó tôi thừa biết qua các bản tin dáng đầy trước cửa các giảng đường Văn Khoa. Tôi tặng Anh cái nhìn cảnh báo “không chừng tôi lớn tuổi hơn Anh đó.” Anh thiệt thà, lắc đầu, nhún vai “Anh không nghĩ  vậy.”

Tối Thứ Năm hôm đó, tôi đến giảng đường A24 tầng lầu. Đến muộn. Tôi đứng trên chiếc ghế ở sau cùng mới có thể nhìn hai cầu thủ thi đấu. Tôi nhìn thấy Anh ngồi bên tay phải, dĩ nhiên Anh không nhìn thấy tôi. Đôi mắt sáng thông minh đó dáo dác tìm người quen. Trên tay cầm cuốn sách mỏng tôi không biết là sách gì, chỉ lấy làm lạ. Chỗ đông người, lại phải đứng tự hành xác, tôi cảm giác được máu chảy qua tim mình đang thiếu ô-xy, tim tôi bắt đầu điệp khúc lười biếng của nó, khó thở, tôi quyết định một mình đi bộ về quán trọ trước khi ngã quỵ ở chỗ này. Qua khỏi con dốc sau trường Đại Học, trước khi bước xuống đường Phù Đổng Thiên Vương để rẽ phải về quán trọ, tôi dõi mắt về quán trọ 3A, nơi tôi từng trọ ở đó. Đèn phòng bên ấy còn thắp sáng. Trái tim lại không làm trọn chức năng, nó khiến lồng ngực tôi đau nhói. Tôi như quên mình đang đi về đâu. Cuối cùng, đôi chân cũng đưa thân xác tôi về trước quán trọ của mình. Tôi bước vào, muốn dạo dăm ba khúc nhạc, nhưng nhìn cây đàn ghi ta như muốn nhắn nhủ tôi rằng “cô chủ mệt rồi, ngủ đi”. Viết xong đôi dòng nhật ký, tôi nằm xuống ngủ vùi cho đến lúc Dung về tôi mới ngồi dậy làm công việc vệ sinh buổi tối. Trở lại giường, nằm thao thức đến canh tư , bên cạnh tiếng thở đều của Dung và chị Thủy (Văn K14- người tặng tôi chiếc áo gió màu vàng mà Thu Vân hay “mượn” để diện vào những dịp có người thân hoặc bạn bè lên Đà  Lạt thăm Vân), và tôi thiếp đi trong cơn mộng mị.

Sáng hôm sau, chị Hòa (Văn K14) từ cư xá ghé qua quán trọ trao cho tôi một cuốn Catalog của trường Đại Học Kinh Tế, bảo rằng “Anh chàng sinh viên Đại Học Kinh Tế gởi tặng em”, “cảm ơn chị”. Tôi nhận, và biết đó là Anh. Đây là cuốn sách tôi nhìn thấy trên tay Anh tối qua. Có thể, người mà Anh đã dáo dát đưa mắt tìm tối qua chính là tôi. Tôi đã  suy đoán đúng. Tôi mở cuốn Catalog ra, thấy dòng chữ Anh ghi trên trang đầu “Tối qua tìm em mãi, tặng em tấm hình và cuốn sách về trường Đại Học Kinh Tế”, Anh không quên để lại địa chỉ, điện thoại trên trang sách. Tôi đọc những dòng chữ phía sau tấm hình Anh chụp trong phòng làm việc của Tổng Thống Ngô Đinh Diệm tại Dinh III “Đà  Lạt yêu dấu…nhớ về một người có rất nhiều kỷ niệm. (ký tên) Lê Trung Thành”. Dòng sau cùng “Mến tặng Diễn Chinh, người bạn Đà  Lạt, 11-1993.” Chỉ vậy thôi, mà đối với Anh “có rất nhiều kỷ niệm”. Tôi thật không làm sao hiểu được.  Chỉ biết, từ lúc nhận được cuốn Catalog Anh tặng, tôi không ngừng suy tưởng về Anh, về cách chúng tôi đã gặp nhau tình cờ…

Trường Đại Học tổ chức lửa trại vào tối thứ Bảy. Các trường tham dự giải bóng bàn điều ở lại tham gia. Đêm đó Anh đến trại khoa văn K15 tìm tôi. Không gặp tôi. Anh gởi lại mảnh giấy “Diễn Chinh, Anh đưa bạn bè đến giới thiệu với em nhưng không gặp, em trở về đợi Anh nhé, 25 phút sau Anh trở lại.” Nhưng khi tôi trở về đọc mảnh giấy này, Anh đã  trở lại thêm vài lần nữa. Vẫn không gặp được tôi.

Tôi nhớ đêm đó, tôi cùng Hiếu (Nha Trang) đi dạo dưới trăng non quanh trường Đại Học, hết giảng đường này đến giảng đường khác. Chúng tôi về ngồi trước sâu khấu dưới thung lũng trước nhà khách của Trường Đại Học, chờ nghe cô danh ca Lê Dung hát. Thích thú khi thấy anh Tuấn văn K13 lên hôn cô Lê Dung và tặng hoa cho cô ấy. Rồi chúng tôi xem vở kịch do thầy Thông (Ngôn Ngữ) viết, sinh viên văn K16 thực hiện. Vở kịch mang tính hiện thực, nhạc lồng không tệ. Tôi thích những diễn viên “nghiệp dư” chuyên chở tốt những kịch tính cần thiết trong vở kịch, tạo cho người xem cảm nhận mình đang là người trong cuộc.  Một vở kịch hay.

Ngồi một mình trong trại, cầm mảnh giấy trong tay, tôi quyết định chờ Anh. Trăng non cũng đã  lên đến đỉnh đầu, nhưng Anh không trở lại. Hôm sau Anh trở về Sài Gòn. Tôi biết mình không còn cơ  hội nói chia tay. Đọc lại mảnh giấy nhắn tin của Anh, tôi bắt đầu nghĩ  đến Anh, không biết Anh có buồn khi đến trại Văn Khoa mà không gặp được tôi không? Úp mặt lên đôi tay vòng qua gối, tôi ước gì thời gian quay ngược lại, tôi sẽ ngồi đây chờ Anh trước khi Anh đến tìm tôi.   Tôi cắn chặt môi, cố ngăn những giọt nước mắt ướm trào ra khóe mắt.

Tôi có hai người bạn thời Trung Học, đang tập huấn tại Viện Lục Quân Đà Lạt trong thời gian tôi ở trong Đại Học, đó là Cảnh và Bình. Cảnh thường lên tìm tôi trên trường Đại Học (khổ nỗi lần nào cũng khoác áo lính). Mang theo những thức ăn đồ dùng của lính mà Cảnh, Bình không sử dụng hết, để dành chia sẻ với tôi. Tôi không đành nhìn Cảnh lần nào cũng chờ tôi ở trước cửa thư viện với “hành trang” nhìn vào người ta nghĩ  ngay “anh nuôi” vừa từ chợ về. Tôi bảo Cảnh “đừng mang đồ vào đây nữa, lên thăm tui được rồi, nếu có thực phẩm ‘cần xử lý’ nhắn tui xuống lấy.” “Có sao đâu, tui đem lên, luôn tiện thăm bà” “cảm ơn ông, tui muốn ông thi hành lệnh, bèn như không tui báo cáo thủ trưởng, từ nay ông ‘miễn’ ra ngoài doanh trại rong chơi vô kỷ luật.” Cảnh cười.  Và cách chúng tôi hẹn nhau “nếu không gặp tui, đừng đợi ở trước thư viện lâu, gởi mảnh giấy nhắn tin cho cô Lý làm thư viện, tui nhận được sẽ xuống.” Tôi đã nhận tin của Cảnh sau lửa trại hai tuần. Ngày Chủ Nhật, tôi rủ Thu Vân, người bạn học đồng hương cùng đi xuống Viện Lục Quân thăm Cảnh và Bình.

Chúng tôi đi “không” về “có”. Đang cuốc bộ và khệ nệ với những “món quà” của lính trên chiếc xe đạp trành xẹp lốp của tôi, đột nhiên tôi dừng lại. Chính là Anh rồi. Không nhầm lẫn được. Tôi gặp lại Anh trên đường Yersin (Alexandre Yersin Bác Sĩ  người Pháp khám phá ra cao nguyên Lang Biang) gần Hồ Xuân Hương. Anh đi cùng với một người bạn. Tôi bẽn lẽn cuối đầu thay câu chào, tôi nhận biết tay chân mình trở nên lúng túng run rẩy mà không hiểu vì sao. Người bạn của Anh đã  giúp chúng tôi mang những món quà của lính về quán trọ trong khi Anh mang mớ hành trang của hai người từ Sài Gòn lên. Dọc đường chúng tôi chia sẻ  với nhau về nhiều câu chuyện, mà đề tài tôi không còn nhớ rõ. Chỉ vì tôi không tập trung vào những câu chuyện đó. Tôi hay nghĩ đến một điều “vừa rời Đà  Lạt hai tuần, Anh lên đây làm gì?”

Về đến quán trọ, tôi mời hai anh ghé vào “thiên đường hạ giới” của chúng tôi. Tôi làm tròn bổn phận của chủ quán trọ đãi ngộ khách. Ý nghĩ  “vì sao tôi gặp lại Anh nơi đây?  Anh đang trốn học hay có nhiệm vụ gì liên quan đến chương trình ở Đại Học Kinh Tế không?” thúc giục tôi mở miệng “các anh lên đây có việc gì quan trọng?” “tụi Anh đang tìm nơi chuẩn bị cho kỳ trại Thanh Niên cuối năm”. “trại Thanh Niên?” “Hội Thánh Anh tổ chức trại hàng năm”, “Hội Thánh Anh?” “tụi Anh là những thanh niên Tin Lành” ,“Tin Lành?” “Gia đình Anh theo đạo Tin Lành!” Anh giải thích. Tôi liên tục vặn hỏi không vì mù tịt với hai chữ Tin Lành, mà vì tôi hiếu kỳ muốn biết “người Tin Lành” sống như thế nào? Lúc đó, không biết Anh nghĩ gì khi trong phòng trọ chật hẹp của chúng tôi vẫn còn chỗ cho cái bàn thờ Phật mà Dung và Loan lập nên. Anh bắt đầu thao thao bất tuyệt về tin tốt lành của Chúa của Đạo Tin Lành.  Và tôi, dĩ  nhiên ngồi nghe như  nín thở. Tôi thật tình không hiểu gì về lẽ đạo của Chúa vào lúc đó . Chúng tôi chia tay trước khi hoàng hôn xuống. Anh để lại tôi những câu hỏi lớn trong đầu, về những điều tôi chưa từng trãi nghiệm. Tôi hình như bắt đầu có cái nhìn khác về người Tin Lành. Không chỉ riêng Anh, mà cả người bạn đi cùng Anh, cũng toát lên vẻ thu hút mạnh mẽ vô cùng. Thu hút sự chú ý của tôi về nhân cách và tâm hồn rất khác thường so với những thanh niên khác.  Tôi biết mình đã quí mến họ cũng một cách khác thường.

Anh trở lại Đà  Lạt vào đầu Xuân. Có phải lần trước mãi mê trò chuyện mà Anh không để ý đường đi, để lần này, Anh lại dò hỏi tìm tôi. Vô tình, Anh dừng lại ở quán trọ 3A, nơi đầu tiên tôi chuyển ra trú ẩn từ cư xá sinh viên. Tôi không biết ai trong quán trọ chỉ đường cho Anh. Hình như Anh Phương hay Định cháu tôi thì phải. Anh đến, cầm trên tay tấm thiệp hoa anh đào bị rách đi một góc. Anh giải thích “lúc tấm thiệp xuân này đến, Anh còn ở Nha Trang”. Tôi mím môi gật đầu. Anh tiếp “người nhà của anh đã  làm một việc tàn nhẫn…” Tôi mở to đôi mắt nhìn Anh cầm cự hơi thở. “Họ không cẩn thận khi xé thiệp ra xem, làm rách đi một góc hoa anh đào.” Giời ạ, tưởng gì, tôi thở ra nhẹ nhõm. Tôi nhớ lại, trước khi về quê đón Tết, tôi gởi  tặng Anh một tấm ảnh hoa anh đào do anh Khá văn K14 chụp. Tôi đề tặng “Trung Thành, trước thềm năm mới, mến chúc anh và gia đình một năm mới bình an và phước hạnh trong sự bảo toàn của Chúa. Diễn Chinh. Xuân ‘94”. Tôi cầm tấm thiệp từ tay Anh “vẫn đẹp đấy thôi, chỉ  mất đi một góc”, “Anh cảm thấy tiếc” “Anh không còn thích nó nữa?” “Vẫn thích”, “thế thì được rồi”.

Tôi chỉ nhớ có vậy. Tôi đã  gặp Anh như  thế. Và Anh đã  từng trở lại tìm tôi. Chúng tôi chưa từng bày tỏ với nhau chuyện liên quan đến con tim, dù chỉ qua những ngôn từ khờ khạo của tuổi sinh viên. Tôi biết tôi ngưỡng mộ Anh về tài chơi bóng bàn, và nhất là một nhân cách khác người khi ngồi đối diện cùng tôi. Chúng tôi chưa từng hẹn hò, nắm tay nhau, hay dạo chơi riêng ở bất cứ nơi nào trên Thành Phố Sương Mù, nơi chúng tôi đã  gặp nhau. Anh đối với tôi không có sự rung cảm của con tim, còn tôi, tôi không biết rõ, chỉ biết tôi thường bối rối và không bao giờ dám nhìn thẳng vào đôi mắt sáng thông minh của Anh.  Mỗi lần Anh xuất hiện rồi biến mất tôi lại thấy mình rơi vào trạng thái hụt hẫng bâng khuâng suốt cả tuần.

Lần chia tay ấy rồi thôi. Tôi không gặp lại Trung Thành nữa. Cũng không liên lạc thư từ. Rời trường Đại Học về nghỉ hè năm đó, tôi đã không trở lại giảng đường. Tôi ở lại quê nhà, chờ ngày định cư sang Mỹ theo diện H.O cùng với ba tôi.

*
*      *

Tôi đến Hoa Kỳ vào một buổi chiều nắng Hạ. Chicago Tháng Sáu, nắng gắt không khác gì nắng quê tôi. Cảm giác hụt hẫng ập đến. Tôi nhớ quê  hương , nhớ mẹ. Tôi viết thư về cố quốc hầu như hàng ngày. Tôi viết cho mẹ, cho các anh chị, cho bạn bè. Mỗi bức thư gởi đi, tôi lại sống trong chờ đợi. Chờ đợi một điều gì tôi không rõ, hình như một niềm an ủi cho tâm hồn cô đơn lạnh lẽo của tôi.

Nhưng rồi, nhiều bức thư được gởi đi, thỉnh thoảng tôi mới nhận được một hồi âm vô cùng ngắn của mẹ. Còn bạn bè, tôi đã hy vọng họ nhận được tin tôi, lập tức sẽ hồi âm ngay cho tôi. Trong những người bạn đó không có Anh. Tôi đã  lầm, chỉ một mình Nga đang học Trung cấp y ngoài Đà  Nẵng hồi âm cho tôi. Những người còn lại, bặt vô âm tín. Tôi từng sống trong dằn vặt. Tôi nghĩ  lá thư gởi về Tòa Soạn Báo Công An Gia Lai đã  không tới tay anh Kông (Người tôi quen trong dịp hộp mặt đồng hương Quãng Ngãi giữa Trường Đại Học Sư  Phạm Quy Nhơn, và Đại Học Đà Lạt,  quê  anh nằm  cạnh  quê  tôi , chỉ  có  điều, nhà  anh ở  miền duyên hải Bình  Thạnh, còn  nhà  tôi  trên miền sơn cước Sơn Lộc ). Nhưng tôi lại không còn cách nào khác hơn để liên lạc với anh. Tôi lo ngại tiếp tục viết thư  về nơi ấy, vô tình tôi gây trở ngại cho công tác của anh trong nghành công  an. Tôi chọn thái độ im lặng.

Còn lá thư về Phú Yên thì sao? Vì sao người anh trai tinh thần của tôi lại không trả lời tôi? Tôi thường đem tấm hình anh tặng tôi với dòng chữ “viết nghiêng” ra xem “Tặng bé Chinh của anh! Anh trai tinh thần,(ký  tên ) Nguyễn Thanh P”. Tôi thương và quí Anh nhiều, nhiều lắm. Tôi nóng lòng, muốn qua bức thư này để biết tin anh, hỏi thăm nhiều người bạn củ, một thời sinh viên gắn bó.  Tôi tiếp tục viết thêm vài lần thư  nữa, và cũng sống trong đợi chờ. Nhưng rồi buồn trong vô vọng. Tôi quả quyết “anh P quên mình thật sự rồi”, thì hẳn trong nhóm bạn thời 3A ấy, không còn ai nhớ đến tên tôi, cả  những bạn  đồng khóa cũng thế  thôi. Tôi quyết định không viết thư làm phiền anh P nữa. Tôi choáng váng trước lối sống khác biệt ở xứ người. Tôi phải vừa học vừa làm nhiều công việc cùng một lúc để mưu sinh. Để tự trang trãi cho việc học của mình, và giúp đỡ gia đình ở Việt Nam. Tôi thất vọng trước những mong chờ không được đáp lại. Tôi sống một cuộc sống gần như là ác mộng.

Lễ Tạ Ơn đầu tiên trên xứ người, tôi ngồi trước đống thiệp tri ân, cầm bút ghi vội, để những tấm thiệp đến kịp người nhận trước ngày Lễ. Tôi chợt nghĩ  đến Anh. Người mà tôi cho là không còn nhớ gì đến tôi. Tôi viết thiệp gởi về cho Anh. Và dĩ  nhiên, nó sẽ chẳng mang một ý nghĩa gì đối với Anh, bởi lẽ người Việt Nam không có ngày Lễ Tạ Ơn, và cánh thiệp này sẽ đến muộn. Tôi viết vội một bức thư  kèm theo. Kể Anh nghe những ngày đầu tôi sống trên đất Mỹ, những cô đơn thất vọng đè  nặng tâm hồn tôi hàng giờ. Tôi cho Anh biết, nhờ Anh làm chứng Chúa trong lần ghé quán trọ thăm tôi cùng với anh bạn của Anh mà tôi tiếp tục đi nhà thờ, tìm kiếm Chúa, và bây giờ tôi là một con chiên ngoan đạo của Chúa, và tôi đang làm thư ký cho ban Thanh Niên tại Hội Thánh CMA Chicago. Tôi khoe với Anh, tôi viết một vở kịch ngắn pha chút hài hước, tổ (4) của tôi đã  thực hiện thành công trong dịp trại Thanh Niên mùa hè vừa qua. Tôi đã dùng tục ngữ, ca dao Việt Nam, tập cho Thanh Niên hò vè đối đáp với nhau về quê hương, về tình yêu rất sôi nổi trong đêm lửa trại. Và tôi cảm ơn Anh đã  gieo Chín trái Thánh Linh vào lòng tôi: Lòng yêu thương – sự vui mừng – bình an – nhịn nhục – nhơn từ – hiền lành – trung tín – mềm mại – và tiết độ. Tôi gởi thư  đi, không chờ đợi hồi âm.  Tôi sợ cảm giác hy vọng để rồi thất vọng.

Trước Giáng sinh một ngày, tôi vui mừng bậc khóc. Tôi nhận được thiệp Giáng Sinh của Anh. Anh viết thư cho tôi bảo rằng “không có gì quí giá cho bằng, cuộc đời theo Chúa của Anh đã  mang một linh hồn có tội trở về với Chúa. Anh vui mừng quá đỗi.” Linh hồn có tội đó là tôi. Anh còn chia sẻ và an ủi tôi nhiều điều. Khiến tâm hồn tôi vui hẳn lên. Kể từ đó, tôi có người để tâm sự. Tôi thường xuyên viết thư về cho Anh hơn.  Dù xa nhau vạn dặm, nhưng tôi cảm nhận Anh rất gần gũi bên tôi, hiểu tôi khiến cho tôi không còn thấy mình cô đơn nữa.  Trong những lần thư tôi viết cho Anh, tôi luôn “tra tấn” Anh về những buồn khổ tôi phải đối diện hằng ngày trên xứ người. Anh hiểu tôi là một con chiên mới trở về với Chúa đang cần được chăm sóc như một đứa trẻ về mặt tâm linh, nên thư  Anh bao giờ cũng giúp tôi yêu Thiên Chúa càng thêm và biết nương cậy nơi Ngài để vượt qua mọi khó khăn trắc trở trong cuộc sống trên vùng đất mới.

Giáng Sinh năm 1997, tôi nhận một tấm thiệp của Anh.  Anh tự tay vẽ lấy bằng nét bút bi màu tím sắc sảo. Tấm thiệp kể một câu chuyện Giáng Sinh. Anh ghi phía sau “người ta bảo mình tự tay vẽ lấy mới thể hiện hết thiện chí”. Giáng Sinh năm đó, lòng tôi vui lắm.

Trước Lễ Phục Sinh năm 1998 khoảng ba tuần, tôi gởi quà về cho Anh, chỉ là những cuốn sách về Đạo Tin Lành. Tôi gởi kèm thật nhiều chiếc bookmark, nhờ Anh tặng cho thanh niên trong Hội Thánh vào dịp Phục Sinh để  họ  dùng đánh dấu trang Kinh Thánh . Tôi vào tiệm sách của Trường Thần Học Moody, nơi tôi đang làm việc bán thời gian, chọn hai chiếc bookmark rất đặt biệt nói về sự hy sinh cao cả của Thiên Chúa dành cho loài người. Một chiếc tôi tặng Anh, chiếc kia tôi kèm theo một dòng chữ “xin Anh hãy tặng chiếc bookmark này cho người con gái Anh yêu thích nhất.”

Lễ Phục Sinh trôi qua hơn hai tuần. Buổi tối trở về nhà từ tiệm Phở Hòa (tôi làm hầu bàn sau giờ học cho đến mười giờ đêm ở đó), tôi lại nhận được thư  Anh. Tôi tranh thủ làm hết việc nhà, may hết đống đồ giấy chị tôi giao phó, khoảng một giờ sáng, tôi ngồi vào bàn học. Tôi mở thư Anh ra xem. Anh gởi thiệp Phục Sinh cho tôi. Lần này thì khác trước. Thiệp Anh mua, không vẽ. Phía trước là dáng dấp thanh lịch của một cô gái trong chiếc áo dài trắng một mình đi lễ, Anh ghi “hiện tại”. Phía sau là đôi “trai tài gái sắc” nắm tay nhau cùng đi đến giáo đường, Anh ghi chú “Tương Lai”. Tôi cười một mình trước ý tưởng ngộ nghĩnh của Anh. Để tấm thiệp sang một bên, tôi mở những trang thư anh viết. Vẫn như những lần thư trước, Anh kể tôi nghe những sinh hoạt của thanh niên trong Hội Thánh Phú Lâm. Giảng luận đôi điều về niềm tin với Thiên Chúa. Anh nói tôi biết, Anh là  con trai của  “Kỳ quan bóng bàn  thế  giới’, bố Lê Văn Tiết.   Và bao giờ Anh cũng kết thúc bằng những lời an ủi, và một lời cầu nguyện ngắn dành cho riêng tôi trên trang giấy. Khác một điều, lần này sau chữ Amen, Anh ghi thêm “Anh đã làm đúng theo lời em căn dặn. Anh gởi tặng chiếc bookmark em đã lặn lội vào trường thần học nổi tiếng Moody ở Hoa Kỳ tìm mua cho người con gái Anh yêu thích nhất. Người con gái ấy là em. Anh yêu em!”  Tôi nhìn xuống chiếc bookmark nằm lặng lẽ trên trang sách Luật Kinh Tế II. Nó rơi xuống có lẽ lúc tôi mở thư Anh mà tôi không để ý.

Tôi bàng hoàng và nhận ra rằng trái tim tôi đang rối tung lên những nhịp đập rối bời. Chiếc bookmark trở lại với chính tôi, điều mà lúc gởi đi tôi không dám hy vọng.

Tuliphantragiang
Chicago 1998

(Mối tình đẹp như bài thơ của Diễn Chinh đã bị chết yểu vì Cha và Anh của cô đã trực tiếp buột cô phải cắt đứt liên lạc với chàng sinh viên Kinh Tế, điều mà cô vĩnh viễn không bao giờ chia sẻ cho người mình yêu biết, cô âm thầm chịu đau khổ một mình trước sức ép của cả gia đình, với Trung Thành cô bằng lòng làm một người tình phản bội.)

 

TÁM (8) Nguyên Tắc Tham Gia Phản Hồi Và Quyền Của Tulip Phan Trà Giang.............. Bạn đọc phản hồi bài viết do Tulip đăng tải xin tuân thủ tám (8) nguyên tắc sau đây: (1) Để lại danh tánh rõ ràng. (2) Chỉ được dùng một (1) nickname và một (1) địa chỉ email duy nhất. (3) Phản hồi KHÔNG ĐƯỢC LẠC ĐỀ. (4) VIẾT BẰNG TIẾNG VIỆT CÓ DẤU. (5) Tránh dùng Tiếng Anh trong trường hợp có thể. (6) PHẢI có tính xây dựng, KHÔNG ĐƯỢC BÔI NHỌ CÁ NHÂN. (7) Từ ngữ PHẢI trong sáng. (8) Nội dung PHẢI rõ ràng và tích cực. Tất cả những phản hồi VI PHẠM bất kỳ nguyên tắc nào của Tulip Phan Trà Giang sẽ được xóa và chuyển sang spam mà không cần thông báo trước. Quản Trị Và Điều Hành Blog: Tulip Phan Trà Giang.

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: