RSS

Một Ngày Tháng Tư

30 Apr

 
DC9
Tuliphantragiang

(Cư Xá Sinh Viên Đà Lạt, ‘92)

Truyện ngắn này mình viết từ năm 1992, bây giờ là Tháng Tư, mình muốn đăng lại để nhắc nhở chính mình, vì sao, mình và những người Việt thương yêu đang hiện diện ở nơi đất khách quê người này!

Một Ngày Tháng Tư

1.
Ký túc xá vắng tanh, không một bóng người lên xuống. Phải rồi, cuối tháng mà, bọn sinh viên lép xẹp túi tiền. Cuối Tháng Tư  nghỉ lễ, nằm mạp trên giường là thượng sách. Ra đường, đồng nghĩa với “ký sổ”. Châu Sa vẫn còn chút tiền học bổng nàng dành dụm được. Mẹ nàng không là người giàu có. Làm nông trang, buôn bán nhỏ giữa thời buổi đói kém triền miên, tiền kiếm được không đủ nuôi anh em nàng trong đại học. Châu Sa thi thoảng viết thư  (dài lê thê) về Tòa Soạn Nhà chờ nhuận bút. Còn anh nàng thì từ Sài Gòn thường thức trắng bao đem đắn đo suy nghĩ  để thiết kế một “con số” hình kiến trúc cao ngất ngưỡng gởi về cho ông bà giám đốc xét duyệt, khiến họ lần nào cũng chóng mặt, nhưng…phê chuẩn ngay vì độ chính xác của những con số đã được ngài kỹ sư  kiến trúc tương lai cân nhắc cực kỳ kỹ lưỡng.

Sa chợt nhớ Tết rồi về quê, khi hai anh em nàng đang kể nhau nghe về cuộc sống sinh viên nơi xứ lạ, anh trai nàng hứa rằng “dịp nào đó em xuống Sài Gòn, anh dắt em đi ăn kem ký” (hai chữ “kem ký” nặng thấy mồ lập tức in sâu vào đầu, ai bảo Châu Sa quê mùa thì nàng xin chịu, chứ thật tình Sa chẳng hiểu vì sao anh nàng bảo “kem ký” mà không là “kem ly”? Bụng bảo dạ rằng thà chờ cơ  hội tìm hiểu qua việc quan sát, hơn là hỏi những câu vớ vẩn để tự khoe mình nhà quê). Sa nhảy xuống từ giường tầng chuẩn bị “hành trang”, mang ba lô ra thẳng bến xe Đà Lạt, đón xe đi một mạch xuống Sài Gòn.

Tạm chia tay Thành Phố Sương Mù, Sa đi Saigon, mà đi một mình mới khiếp chứ. Sài Gòn đổi áo thay tên. Cha Mẹ Sa thường bảo thế. Sa chưa từng đặt chân lên mảnh đất Saigon, đây là lần đâu tiên. Sa rất hiểu vì sao nó bị thay tên nhưng cóc hiểu nó đổi áo thế nào. Một cảnh tượng bát nháo hiện ra khi Sa vừa thoát khỏi cực hình bị chèn ép từ chiếc xe khách quá tải. Sa cố che giấu sự lo sợ bằng nét mặt nghiêm trang pha chút bậm trợn trông thơ  ngây đến buồn cười khi nàng bị bao vây bởi một nhóm người làm nghề nghe đến là nghẹt…thở: “xe ôm”. “Về đâu cô?”, Sa nghe câu hỏi tế nhị đó đến hơn chục lần, kèm theo sau là những tiếng chửi thề đáp trả lại thái độ tịnh khẩu của Châu Sa. Nói đúng ra, nàng sợ mình sửa giọng chưa chuẩn, xổ giọng Quãng ra là bị luộc chín như  chơi. Dân quê Sa truyền miệng nhau rằng “vô Saigon mà nói tiếng Quãng là bị thịt ngay”. Sa cứ cuối đầu đi ra khỏi bến xe Văn Thánh. Đón xe lam về ngã tư  Bảy Hiền, rồi từ đó Sa đón xe đò  về Hóc Môn, nơi dì của Sa đang sống. Đây là lộ trình anh trai nàng đã  vẽ, tiền lộ phí cũng được anh cho giá chính xác. Châu Sa cứ thế mà theo nên nàng không hề bị gạt một xu nào.

2.
Bước vào nhà Dì Tơ, Sa sững sờ nhìn thấy anh trai nàng đang ngồi ăn mì…gõ. “Dì mua, còn ít em ăn đi”, người dì khe khẽ “con ăn đi, để dì mua tô khác cho em”. Dì ngồi nhìn hai anh em Sa ăn mì gõ trông giống hệt mẹ của Sa hay nhìn anh chị em Sa ăn khoai thuở họ còn bé. Châu Sa nhìn dì, bắt gặp đôi mắt ấy ngấn lệ. Cả cái dòng lệ ứa của dì Tơ cũng giống hệt mẹ của Sa thuở xưa mỗi khi hai anh em Sa than đói, mẹ Sa chẳng biết làm gì chỉ yên lặng ngồi nhìn cơn đói con mình chậm chạp đi qua cho đến khi anh em Sa thiếp đi trong vòng tay của mẹ. Cái thời bao cấp ấy, đói rách ruột không ai còn muốn nhớ tới làm gì, nhưng bây giờ đột nhiên nó trở lại, khiến tô mì gõ đang thơm ngon bỗng trở nên mặn đắng.

Anh trai nhìn Sa, “xuống mà không báo anh?”, “em không dự tính trước”. “Không thư  về cho mẹ à?”, “anh cũng vậy hả?”. “Ừ, nhưng nhận tiền dì hoài anh ngại”, “em không vì thiếu tiền mà xuống”. Người anh trai nhìn em bằng cái nhìn khó hiểu. (Ở cái lúc này mà Sa tuyên bố “em vì ‘kem ký’ xuống đây” anh trai Sa nhất định mắc nghẹn chứ chẳng phải chơi). Người Dì nghe được hai anh em Sa tâm sự, dì buồn trông thấy. Dì nhỏ nhẹ “nếu thiếu tiền các con cứ nói dì biết, đừng có khiến mẹ bây lo lắng. Dì chẳng giàu có, nhưng giúp được anh em bây tới đâu thì hay tới đó.” Anh em Sa nín lặng, tiếp tục nuốt mì…gõ.

Sài Gòn đêm xuống mát dịu. Nằm bên cạnh dì, Sa nhớ hơi ấm Mẹ nàng hồi còn ở quê, đêm đêm nằm hóng mát trên chiếc giường tre trước sân nhà bên cạnh mẹ, gió ngoài Sông Trà thổi vào mang những câu chuyện thời chiến tranh của mẹ Sa đang kể đi xa, rồi đưa nàng vào giấc ngủ không mộng mị. Châu Sa thủ thỉ với dì, “ước chi chị em con lớn lên lúc nào cũng thương yêu nhau như  dì và mẹ”. Dì thỏ thẻ “mẹ con đáng được thương yêu và kính trọng”, “thì…người mẹ nào chẳng đáng được thương yêu và kính trọng hở dì?”, “ừ! nhưng mẹ con thì… không giống những người mẹ khác, các con không hiểu nổi đâu”. Dì khơi dậy trong Sa sự hiếu kỳ “nghĩa là sao hở dì, bộ..mẹ con có giấu chị em con chuyện chi hả dì?”. Dì thở dài rồi tiếp, “không, các anh chị lớn của con thì còn có thể nhớ và hiểu được, còn hai anh em bây đây sanh sau đẻ muộn có biết gì đâu, dì sợ rằng bây chẳng nhớ gì ráo về… cái khoảng thời gian khổ sở của Mẹ bây đó chớ”. “Dì đã  nói vậy, con xin dì kể con nghe, chuyện gì đa xảy ra cho mẹ con hở dì?”, “ời thì… hồi con chừng hơn tuổi…”

3.
Dì kể, khi Sa được hơn một tuổi, Miền Nam Việt Nam sụp đổ. Miền Bắc vui mừng chiến thắng, họ cho rằng họ đã  giải phóng cho dân tộc Việt Nam và thống nhất đất nước. Cha nàng lý tưởng không thành. Đầu năm 1976, sau một thời gian bị quản thúc, công an đến nhà đọc lệnh bắt Cha nàng đi tù. Họ đọc lệnh bắt Cha nàng đưa vào nơi gọi là “trại cải tạo” vì tội phản bội Tổ Quốc, làm tay sai cho Mỹ. Họ khoác lên những người như  Cha nàng hai chữ Ngụy Quyền. Họ kêu án Cha nàng 3 năm tù “học tập cải tạo”. Giữa buổi chợ đông, thị trấn đông người qua lại, rùng rợn những tiếng hét không giống người “đem chôn sống mẹ nó đi, thứ gian tặc ác ôn, ác bá” làm lấn át một vài giọng nói hiền lành “tội nghiệp cho bầy con nhỏ!”. Họ xô Cha nàng ra khỏi sân nhà. Đôi tay ông bị xiềng chéo sau lưng. Bước chân ông khập khểnh bởi chiếc bao cát hành trang vào tù tuy không nặng, nhưng vừa đủ vướng bận đôi chân. Chị Thảo, chị gái thứ ba của Sa, chạy theo dúi vào tay Cha cô chiếc khăn len khách hàng đặt chị đan vừa xong tối qua. Còn chị Nguyệt, chị Hai của nàng nhét vội vào túi Cha nàng gần trăm bạc, số tiền mà các chị và mẹ nàng thức đêm đan áo và làm bánh dành dụm được. Cha Mẹ nàng không có được một phút để trao đổi với nhau về bất cứ điều gì. Ông chỉ ngoái đầu lại nhắn gởi mọi điều với vợ  bằng ánh mắt. Mẹ nàng cắn chặt môi nhìn chồng rồi nhắm mắt gật đầu. Các anh chị Sa chạy theo gọi Cha kêu khóc. Châu Sa cùng người anh trai kế đứng khép nép bên mẹ nhìn theo hoảng sợ. Cha nàng gọi tên từng đứa một, rồi cố không nghẹn ngào “ngoan nào…đừng khóc nữa… ở nhà nhớ vâng lời và giúp đỡ Mẹ…Cha đi…mai mốt…cha lại về!” Chiếc xe áp tải người đàn ông “phản quốc” mất hút. Tám chị em Sa bàng hoàng ôm chầm lấy Mẹ. Mẹ nàng đã  cố nuốt nước mắt vào tim. Người đàn bà chân yếu tay mềm muốn chồng bà yên tâm mà đi, muốn ông nhìn thấy bà bản lĩnh và kiên cường để chống chọi với bất kỳ tai họa nào mà ông biết trước chế độ mới sẽ giáng xuống cho gia đình vợ con ông. Nhưng giờ  bóng ông vừa khuất, người đàn bà bậc khóc. Bà run rẫy “Mẹ muốn khóc…mẹ thật muốn khóc các con ạ…Cha đi rồi, Cha đã  đi thật rồi các con của mẹ !” Bà đã  khóc trong nỗi đau chia lìa, rồi bà ngất đi trong tiếng gọi bàng hoàng “Mẹ ơi!” của tám đứa con đang nhìn nhau ngơ  ngác.

Không kịp trở tay, sau Tháng Tư  1975, tất cả tài sản của gia đình Sa điều bị tịch thu, căn nhà dưới phố, ruộng đất trên quê, tất cả lập tức trở thành tài sản của nhà nước . Cả mảnh vườn ngoài thị trấn Phước Lộc Đông, Cha nàng trồng nhiều hoa trái mà Mẹ và chị em nàng yêu thích cũng bị tịch thu để họ chia nhau canh tác, còn căn nhà thì đã  bị mìn giật sập ngay sau Tháng Tư, 1975. Đây là căn nhà vườn Cha nàng chắc chiu chăm sóc. Những ngày nghỉ phếp hay cuối tuần Cha thường đưa Mẹ và chị em Sa về đây thư  giãn. Đây cũng là nơi chôn nhau cắt rốn của người đàn ông “phản quốc”. Căn nhà mà chị em Sa một thời sống hạnh phúc yên vui có Cha, có Mẹ, bây giờ trở nên lạnh lẽo hoang tàn với vách đất mái tranh. Cha nàng ra đi, có một điều ông không bao giờ ngờ trước được, Mẹ nàng ở lại cùng tám đứa con đang tuổi ăn, tuổi lớn với đôi bàn tay trắng và nỗi cô đơn, hòa lẫn nỗi sợ hãi đến vô cùng.

Dì Tơ  lúc đó nhìn hoàn cảnh của Mẹ Sa ruột đau như  cắt. Dì và Mẹ Sa lấy chồng cùng quê. Xưa nay, có chuyện buồn phiền khó khăn gì hai chị em cũng giấu ông bà ngoại Sa. Cả các cậu Sa cũng không hề được biết. Nhưng lần này, dì Tơ  chạy về bên ngoại, dì chia sẻ hoàn cảnh của Mẹ Sa với các cậu, các dì. Ông bà ngoại Sa đã  qui tiên trong chiến tranh vì những viên đạn lạc. Các cậu dì của Sa nhanh chóng chia sớt khó khăn của mẹ nàng. Nhưng, các cậu dì của Sa cũng đang sống trong thời buổi bao cấp, họ còn có gia đình riêng đề cưu mang. Sự giúp đỡ ấy cũng chỉ tạm thời. Mẹ của Sa một mình phải đương đầu với cái ăn, cái mặc, cùng tất cả mọi sinh hoạt khác cho đời sống của tám đứa con điều đang ở độ tuổi đến trường, chỉ có hai đứa nhỏ là Sa và người anh kế nàng còn quá bé.

Những người thân quen thông cảm cho hoàn cảnh của Mẹ Sa thì họ ít khi đến gần gia đinh Sa vì sợ  đôi mắt của chính quyền. Để bảo vệ cho mẹ con nàng, những người từng được Cha của Sa nâng đỡ lúc ông còn tại nhiệm trong thời Việt Nam Cộng Hòa, đã  tìm cách âm thầm thăm viếng an ủi và nâng đỡ tinh thần mẹ nàng. Những người vốn ghét “quân Ngụy Quyền” thì hầu như  ngày nào mẹ con Sa cũng phải chạm mặt.

Sau hai tuần Cha nàng bị bắt đi, cả gia đình Sa không biết gì về tin tức của Cha nàng. Người mẹ đã  phó thác việc nhà cho con gái lớn, bà bắt đầu đi dò la tin tức của chồng. Bà rất sợ chồng bà sẽ bị đem đi thủ tiêu. Họ mang chồng bà xuống Quận Đường Sơn Tịnh (từ ngữ Cha Mẹ Sa thường dùng), rồi biệt tin. Bà dò la mãi mới biết chồng bà được chuyển sang nhà lao Hành Tín, huyện Nghĩa Hành. Bà đến gặp chồng một lần ở đó. Rồi sau, họ áp tải chồng bà vào nhà lao Nghĩa Điền, một vùng núi non xa xôi, hẻo lánh của tỉnh Bình Định. Bà trở về với đàn con dại, báo tin Cha của chúng vẫn còn sống. Tám chị em Sa vui mừng rơi nước mắt.  Song, niềm vui tắt ngấm và  bị dìm sâu vào cơn đói không hiện nỗi trên nét mặt trẻ thơ. Cơn đói đang hoành hành trong căn nhà chưa quen thiếu vắng người Cha. Mẹ Sa buồn và khóc. Rất nhiều đêm mẹ Sa không ngủ, thương chồng chịu cảnh tù đày, thương con đang sống trong cảnh thiếu trước hụt sau, tất cả đang ngoài tầm tay của bà. Bà thường ngồi bất động bên ngọn đèn dầu hắc bóng bà vào chiếc vách cô liu.

Con Sông Trà trở thành cứu cánh của Mẹ Sa. Gia đình phía ngoại của Sa có nghề đánh cá trên sông nhưng mẹ Sa chưa một lần chài lưới. Các cậu của nàng đã  tập cho mẹ nàng giăng lưới. Bà học rất nhanh. Giữa thời buổi thị phi, mẹ Sa chạy cơm từng bữa nhờ con Sông Trà hiền lương ấy. Song, không phải mùa nào cũng lưới được cá, chị em Sa luôn bữa đói bữa lưng. Lại nghĩ  đến cảnh Cha nàng đang chịu tù đày, người đàn bà ở tuổi bốn lăm càng lúc càng héo hon.

Khi anh trai kế Châu Sa tới tuổi đến trường, Châu Sa tròn 3 tuổi, mẹ gởi Sa cho người dì bên kia sông. Bà trở vể bàn bạc với các anh chị lớn của Sa, bà đã  quyết định đi theo một số người bạn trong xóm củ, lên miền núi Sơn Hà cắt tranh, làm nương. Làm bất cứ việc gì bà có thể kiếm được tiền để nuôi tám đứa con. Và bà đã  đi lên miền sơn cước, ban ngày khai hoang, làm rẫy, ban đêm giã gạo bằng chày. Tiếng chày khuya của mẹ nàng không ác nổi tiếng cười đùa của vợ chồng con cái chủ nhà, nên tiếng chày cứ âm thầm, âm thầm đơn độc như  nỗi nhọc nhằn lặng lẽ của Mẹ nàng đang tuông đổ. Đổi giọt mồ hôi và nước mắt của bà bằng chén cơm và một ít lúa gạo khiêm tốn từng ngày. Mỗi tháng một lần, bà quảy bộ hơn ba mươi cây số từ  Sơn Hà ngược xuống Sơn Lộc những gạo, khoai, đậu…nặng trĩu đôi vai cứu đói đàn con.

Bà đi, người chị cả đã  thay mẹ hướng dẫn các em đi làm công lấy điểm, cái thời buổi hợp tác xã khắc khổ vô cùng, lặn lội ngày công được ghi dăm ba điểm, gom góp cuối năm cũng chẳng là bao, xem như  làm không công cho thổ địa, nhưng người người, nhà nhà  vẫn phải hì hục mà làm. Các chị gái của Sa quen có kẻ hầu người hạ, họ chưa từng chân lấm tay bùn, nhưng bây giờ lại thích nghi rất nhanh với cảnh ruộng nương. Chị Hai của Châu Sa ở nhà nhận đan áo, thiêu thùa và làm bánh. Không có mẹ, người chị cả phải đùm bọc và bảo vệ cho các em. Họ cùng nhau vuợt qua những cơn đói luôn chờ chực hàng ngày trong nỗi đau thương cha nhớ mẹ thiêu đốt họ từng khoảnh khắc.

4.
“Con ngủ rồi à?” Châu Sa nằm im lặng. Dì Tơ  nghĩ  cô cháu gái mình đã  ngủ say, Dì tạm ngưng câu chuyện, buông mùng, tắt cái quạt máy đang hướng về phía cô cháu gái rồi đi dần vào giấc ngủ dưới khí trời mát rượi của Đêm Sài Gòn Tháng Tư.

Châu Sa đưa tay quẹt nước mắt. Làm sao mà ngủ được. Sa bắt đầu nhớ quay quắt những tháng ngày cuộc sống đã  sơn quết lên tuổi thơ  cô một bức tranh cùng cực. Khi Châu Sa tới tuổi đến trường, nàng được trở về bên các anh chị của nàng. Cũng là lúc Mẹ nàng giã từ miền Sơn Cước về lại miền xuôi, làm tất cả những công việc gì bà có thể làm để nuôi con và thăm nuôi chồng trong trại cải tạo. Sa đã chứng kiến từng ngày mảnh đời khắc khổ của mẹ. Đứng nhìn từng nỗi đau như những lằn roi khốc liệt của nhiều định kiến xã hội lúc đó quất lên tuổi xuân thì của các chị gái nàng hiện ra qua dòng nước mắt của họ. Cho đến lúc trưởng thành Châu Sa mới thấu hiểu sâu sắc vì sao nước mắt các chị nàng rơi trong ngày Vu Qui. Những giọt nước mắt kia rơi không phải vì vui mừng hay chỉ đơn thuần ngậm ngùi khi phải xa mẹ, xa em, mà những giọt nước mắt ấy rơi để đào sâu chôn chặt những mối tình không được quyền tồn tại. Hay nói khác đi, lấy chồng là cách mà các chị nàng chính thức để tang cho những mối tình với các chàng lính không quân hay biệt động thời Việt Nam Cộng Hòa, mà các chàng trai này đang bị giam cầm trong “tù cải tạo” tận ngoài phương Bắc xa xôi không biết ngày về. Vu Qui là để quên một điều gì đó được các chị gái nàng ghi khắc suốt đời. Kỳ thực nàng không tài nào hiểu được, vì sao cho đến bây giờ những mối tình các chị nàng cố tìm quên thì nó vẫn tồn tại trong trái tim thầm lén chịu đựng của họ, càng lúc dường như càng tha thiết vô cùng.

Chẳng phải như lúc “tòa án nhân dân” của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đọc lệnh kêu án ba năm để bắt Cha nàng đi “học tập cải tạo”, Cha nàng đã trở về sau tám năm bị giam cầm, nhưng tư tưởng của ông không hề “được” cải tạo. Người đàn ông yêu nước, thương nòi đã trở về từ địa ngục trần gian. Chính thức bước ra khỏi cái nhà tù nhỏ bé nhưng kinh khủng để cùng với vợ con tiếp tục những tháng ngày khắc khổ trong một nhà tù tầm cỡ hơn, cùng chia sẻ cuộc sống đang bao trùm bằng trăm nỗi nhọc nhằn lên đầu dân tộc trong cái thời buổi quá độ đang ì ạch kéo cả nước đi lên (mà thực tế là đi xuống) cái gọi là Chủ Nghĩa Xã Hội.

Những hồi ức u buồn đã đưa Châu Sa vào giấc ngủ thiếu hẳn sự bình yên.

5.
Buổi sáng Sài Gòn náo nhiệt. Rang rảng tiếng rao lanh lảnh của đội ngũ hùng hậu những người bán dạo. Châu Sa ngồi trước hè, gương mặt lặng lẽ đặt trên đôi bàn tay thon thon mềm mại. Nàng lặng lẽ như một pho tượng bị bỏ quên trong một lòng phố tất bật. Nàng đang hình dung từng khung cảnh nhẹ nhàng êm ái của quê hương xứ Quảng. Ở nơi đó có Mẹ nàng đang ngồi làm bánh, thỉnh thoảng bà đưa tay xua đuổi đàn chim sẻ bướng bỉnh như đứa con gái út của bà hay sà xuống mổ những chiếc bánh tráng tạo thành hình những chiếc lồng đèn ông sao khiến bà tức chết đi được. Ở đó, có Cha nàng đang tỉa những chậu kiểng trước nhà vào buổi sáng, đôi khi uống trà với vài người bạn đến thăm, rồi khoe “giống hoa này con Út tôi mang về từ Đà Lạt.” Và ở đó, có chị của nàng đang nhịp nhàng cắt những viên ngói sắc sảo đem ra phơi nắng ngoài sân Xưởng Ngói. Ở đó, có tuổi thơ nàng còn bay nhảy trên sông Trà Khúc, những cánh diều tuổi thơ được tự do bay trên bến bãi mỗi chiều về…Châu Sa miên mang đến không nhớ mình đang ngồi giữa buổi sáng của Sài Gòn thật rộn rã, thật xôn xao…

Tạm biệt ký túc xá Bách Khoa vào buổi trưa hôm sau. Tạm biệt người anh trai yêu quí của Sa dưới hàng cây phủ đầy bóng mát giữa nắng trưa Sài Gòn. Tạm biệt Sài Gòn Tháng Tư ồn ào và giả tạo, Châu Sa trở về Đà Lạt lặng lẽ của bình yên. Dọc đường, nàng cười một mình khi nhớ  đến điều hứa hẹn của anh trai đãi nàng “kem ký”. Châu Sa thoáng nghĩ, “ăn kem ký ở quê mình vào những đêm hè sẽ rất tuyệt”. Sa thả hồn vào bức tranh quê hương Quãng Ngãi, rồi mong sao hè đến sớm.

Khi cơn buồn ngủ thỏ thẻ rủ rê bên tai, Châu Sa buông tất cả và chạy rong theo nó. Trong giấc ngủ lúc mơ lúc tỉnh theo vũ điệu khập khễnh của chiếc xe khách đang chạy một cách bất bình tĩnh trên quốc lộ 20, Châu Sa thấy mùa hè năm nay đến sớm, Anh trai nàng từ Sài Gòn lên Đà Lạt đón em gái.  Hai anh em cùng đón xe về quê. Rồi vào một đêm hè, hai anh em đèo nhau trên chiếc xe đạp củ kỷ xuống phố Quãng ăn “kem ký” trên đường Quang Trung. Chao ôi! cái mùi vị của kem sầu riêng bay hương ngào ngạc đến là mê hoặc…

Tuliphantragiang
(Cư Xá Sinh Viên Đà Lạt, ‘92)

 

TÁM (8) Nguyên Tắc Tham Gia Phản Hồi Và Quyền Của Tulip Phan Trà Giang.............. Bạn đọc phản hồi bài viết do Tulip đăng tải xin tuân thủ tám (8) nguyên tắc sau đây: (1) Để lại danh tánh rõ ràng. (2) Chỉ được dùng một (1) nickname và một (1) địa chỉ email duy nhất. (3) Phản hồi KHÔNG ĐƯỢC LẠC ĐỀ. (4) VIẾT BẰNG TIẾNG VIỆT CÓ DẤU. (5) Tránh dùng Tiếng Anh trong trường hợp có thể. (6) PHẢI có tính xây dựng, KHÔNG ĐƯỢC BÔI NHỌ CÁ NHÂN. (7) Từ ngữ PHẢI trong sáng. (8) Nội dung PHẢI rõ ràng và tích cực. Tất cả những phản hồi VI PHẠM bất kỳ nguyên tắc nào của Tulip Phan Trà Giang sẽ được xóa và chuyển sang spam mà không cần thông báo trước. Quản Trị Và Điều Hành Blog: Tulip Phan Trà Giang.

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: