RSS

Category Archives: Từ Đấng Tạo Hóa

TUYỆT ĐỐI KHÔNG THỂ…

                       
DC9
Tulip Châu Sa

“Tôi có thể đánh mất bất cứ điều gì, nhưng không bao giờ để mất cuộc đời tốt đẹp mà Đức Chúa Trời đã ban cho tôi. Tôi có thể tha thứ cho mọi người, nhưng nhất quyết không cho phép bất cứ ai ngang nhiên chà đạp cuộc đời tôi.

Dĩ nhiên, tôi muốn hòa bình và luôn nỗ lực để duy trì hoặc tạo lập hòa bình, nhưng cũng sẵn sàng chấp nhận chiến tranh nếu đó là điều không thể tránh khỏi…”

Pastor Phạm Thiên Ân

 

 

Giã Từ Khổ Hạnh


DC9
Tulip Châu Sa

Tulip:  CLEAR! None of these statements from my dear brother in sweet family of God is wrong about me.  I was living selfish life without knowing I became selfness!  Thanks God! Thanks so much, my dear brother A!  I get back to HIS WORDS, HIS PROMISES TO ME AND COMPLETELY RELY ON HIM! I knew what I should do to live my life for JESUS!

Chị Châu thân mến!

Chị quyết định cuộc đời chị lệ thuộc vào ai? Phải chăng là người đàn ông đó hay một người nào khác? Chắc chị sẽ nói rằng chị lệ thuộc vào Chúa. Nhưng thực tế không phải vậy. Suốt quá trình quen biết chị cho đến khi viết email này, tôi khẳng định rằng chị đã để cho mình lệ thuộc vào con người nhiều hơn là chính Chúa. Đó là lý do vì sao mà chị phải chuốc lấy cho mình quá nhiều buồn đau. Đó là lý do vì sao chị bị trầm uất và nhiều bệnh tật khác. Nếu chị thật sự lệ thuộc vào Chúa, chị sẽ không để cho bất cứ ai hay bất cứ điều gì cướp mất sự bình an và niềm vui trong lòng mình, vì sự bình an của Chúa không phải là cảm giác bình an tạm bợ, mong manh của thế gian, mà đó là sự bình an vượt quá mọi sự hiểu biết, không bị chi phối hay ảnh hưởng bởi bất cứ hoàn cảnh nào.

Có lẽ chị sẽ cho rằng tôi không ở vị trí của chị nên không hiểu được chị, rằng hoàn cảnh của chị rất đặc biệt. Không đâu chị à! Mỗi người đều có những nan đề trong cuộc đời mình, và tôi cũng không ngoại lệ. Tôi không muốn nhắc lại những chuyện không vui, và tôi muốn chị biết rằng tôi đã đối diện với những nan đề nghiêm trọng không kém. Nhưng tôi chưa bao giờ để cho những nan đề đó hay bất cứ kẻ nào cướp mất sự bình an, niềm vui, cũng như sự xức dầu và những khải tượng tốt đẹp trong cuộc đời mình, bởi vì sự bình an của tôi ở nơi Chúa Jesus, niềm vui của tôi ở nơi Chúa Jesus, sự xức dầu của tôi ở nơi Chúa Jesus, những khải tượng của tôi ở nơi Chúa Jesus, và mọi điều tôi có đều ở nơi Chúa Jesus. Bí quyết để chiến thắng là “nhìn xem Chúa Jesus, Đấng khởi nguyên và hoàn tất của đức tin” (Hê-bơ-rơ 12:2) Cũng vì không tập chú vào Chúa Jesus, để cho những sóng gió thét gào chi phối mình mà Phi-e-rơ bắt đầu sợ hãi và chìm xuống sau một quãng đường đi trên mặt nước một cách đầy vinh diệu. Chị thấy không, khi chúng ta nhìn vào nan đề, nó sẽ trở nên lớn hơn và giết chết chúng ta. Nhưng khi chúng ta tập trung vào Chúa Jesus, để cho mình lệ thuộc vào Ngài hoàn toàn, chúng ta sẽ không bao giờ thất bại! Phao-lô nói trong thư Ê-phê-sô 6:12 rằng: “Vì chúng ta chiến đấu KHÔNG PHẢI CHỐNG LẠI THỊT VÀ MÁU, nhưng chống lại CÁC QUYỀN THỐNG TRỊ, CÁC THẾ LỰC, CÁC KẺ NẮM QUYỀN BÁ CHỦ THẾ GIỚI MỜ TỐI NÀY và CÁC THẦN DỮ Ở CÁC NƠI TRÊN TRỜI.” Đừng để bị lừa dối! Sẽ không có bất cứ một con người nào là kẻ thù của chúng ta cả, vì chúng ta chỉ có MỘT KẺ THÙ DUY NHẤT, đó là satan và lực lượng ma quỷ gian xảo, độc ác của nó. Hãy thôi tranh đấu với xác thịt và bước vào chiến trận thuộc linh bằng những vũ khí sắc bén của Đức Chúa Trời. Chị nên dành thời gian đọc lại Ê-phê-sô 6:10-18 và suy gẫm, sẽ được Chúa nhắc nhở và khích lệ nhiều.

Tôi nói điều này, chị đừng buồn: Nhìn hình của chị, đọc những bài viết của chị, tôi có cảm giác như chị là một nữ tu Công Giáo đầy khổ hạnh vậy. Từ trong lòng chị toát ra gương mặt một điều gì đó buồn bã, u ám, đè nén, mệt mỏi, đắng cay… Những lời “cảm ơn Chúa” hoặc “hallelujah” của chị cũng không thể giấu được những điều đó. Hình như chị quá bận rộn với công việc và những nỗ lực con người để hướng thiện nhiều hơn là dành thời gian để thật sự vun đắp mối quan hệ với Chúa Jesus, là mối quan hệ đem lại SỰ SỐNG và SỰ SỐNG SUNG MÃN cho đời sống của chị. Nếu chị cho rằng tôi nói sai thì cho tôi xin lỗi, nhưng đó là những gì mà một người như tôi có thể cảm nhận được. Hãy đóng đinh chính mình trên thập tự giá đi! Hãy giết chết xác thịt của mình đi thì nó sẽ không còn đau đớn, kêu la được nữa! Đừng nặng lòng về những gì NGƯỜI TA nói, nhưng hãy để ý xem Lời Chúa nói gì. Đừng đặt dư luận lên trên những LẬP LUẬN đầy khôn ngoan của Đức Chúa Trời. TỰ DO hay NÔ LỆ, cả hai đều nằm trong tầm tay của chị. Chính chị là người quyết định. Không ai quyết định thay cho chị được, kể cả Chúa! Đừng dựa vào cảm xúc, cảm giác, nhưng hãy vận dụng ĐỨC TIN, vì người công chính SỐNG NHỜ ĐỨC TIN!

Chị thân mến, tôi tin rằng chị cần bước vào một khởi đầu mới với Chúa. Hãy dành cho mình một thời gian không bị lôi cuốn vào những bận rộn của công việc. Với đức tin, chị có quyền quyết định điều đó. Nếu xác định rằng mình không thể tiếp tục dây dưa với con người đó, hãy dứt khoát cắt đứt trên mọi phương diện. Có thể chị không cảm thấy dễ dàng tha thứ cho ông ta, nhưng một lần nữa, hãy sử dụng ĐỨC TIN, hãy vâng lời Chúa mà mở miệng ra nhân danh Jesus công bố sự tha thứ cho ông ta. Hãy làm điều đó cho đến khi quyền năng của sự tha thứ tuôn chảy trong lòng chị, và chị thật sự được tự do. Đây là lúc thích hợp nhất để bắt đầu tập luyện SUY NGHĨ TÍCH CỰC, NÓI TÍCH CỰC, và HÀNH ĐỘNG TÍCH CỰC. “Hãy LÀM THEO Lời, chớ lấy nghe làm đủ mà lừa dối mình!” (Gia-cơ 1:22)

Chị không hề cô đơn đâu! Lực lượng hùng hậu nhất vũ trụ đang sẵn sàng yểm trợ chị: Vua Thiên Đàng, các thiên binh, thiên sứ, và nhiều ANH CHỊ EM THẬT trong Đấng Christ, trong đó có tôi và các anh chị em của Trạm HealtoSave. Tất cả đã sẵn sàng cho sự phục hồi và chiến thắng của chị. Hãy can đảm tiến lên! Hallelujah!

Người Anh Em Trong Chúa Của Chị

 

Sáu Điều Tâm Nguyện(Cũ) Cho Năm Mới 2014


DC9
Tulip Châu Sa

Tulip:  Nhìn lại một năm qua, những điều tâm nguyện này (2013) mình đã cố gắng thực hiện và thực hiện tốt.  Năm cũ sắp qua, năm mới sẽ đến, mình vẫn sẽ sống theo những điều tâm nguyên này.  Không thêm cũng không bớt điều gì.  Nguyện xin Chúa giúp mình sống tốt với những điều tâm nguyện này.  Mình không mong muốn gì hơn thế cho năm mới!  Mình rất thỏa lòng với những gì Chúa BAN CHO và cho Phếp xảy ra trên đời sống của mình!  Tạ ơn Chúa!

1484001_10152107310564850_1865162565_o

Sáu Điều Tâm Nguyện Cho Năm 2014!

Kể từ ngày hôm nay, tôi sẽ tập trung hơn nữa vào việc tôi luyện NHÂN CÁCH và trau dồi TÂM HỒN bằng sáu điều tâm nguyện sau đây:

227260565_af1024

1. Tiếp tục nuôi dưỡng tấm lòng biết ơn Thiên Chúa từ những điều nhỏ nhặt nhất.  Mỗi sớm mai thức dậy, tôi sẽ dâng lời Tạ Ơn Chúa đã cho tôi tiếp tục SỐNG để yêu thương, để cống hiến cuộc đời mình cho Chúa, cho con thơ, cho người, cho đời..  

2.  Làm việc thiện lành, suy nghĩ vì người khác, để tâm vào mọi lời nói và hành động, tất cả tôi điều phải được thực hiện triệt để trên tinh thần dạy dỗ của Kinh Thánh.

3.  Tuyệt đối không để cảm tính chi phối vào những quyết định quan trọng liên quan đến những nhu yếu tối cần thiết cho bản thân và hai con.  Không dằn vặt, đau buồn trăn trở về những đau khổ mình đã hứng chịu trong quá khứ do bất kỳ ai đã mang đến cho mình.  Tiếp tục trau dồi đời sống Nhân Hậu-Vị Tha theo sự dạy giỗ của Cứu Chúa Giê-xu.

4.  Nghiêm túc kiểm tra và xem xét lại hành động cũng như suy nghĩ của mình mỗi ngày xem có lệch lạc khỏi Thánh Ý Chúa không, có ích kỹ, có hèn kém, có suy diễn không để mình cầu nguyện xin Chúa giúp đỡ mình nỗ lực khắc phục.

5. Không tự mãn, sống khiêm tốn hơn nữa từng ngày.  Đây chính là Hoài Bảo mình phải luôn suy nghĩ để đạt đến từng bước cao hơn, để được giống Chúa Giê-xu hơn từng ngày

 6.  Mình sẽ đi sâu, nghiêm cứu học hỏi và duy trì nghiêm túc quá trình này trong công việc làm, nỗ lực từng giờ để không thua kém người khác. 

Nguyện xin Cha Từ Ái giúp đỡ cho con sống nghiêm túc theo những điều tâm nguyện này.  Amen.

 

A Special Christmas Story


DC9
Tulip Châu Sa

Tulip: I read this story first time when I turned 15 (and many more times later…).  I love the simple theme of its.  The Wealth and Poverty, the Generosity and Love. Beautiful gifts that Jim and Della had given to each other on Christmas Eve. Beautiful Symbol of giving.  That’s life.  The beauty of life of 19 century, and today…. Many of us are still in Della circumstance, don’t we!?

Christmas is in the corner, should we read this story again to warm up our hearts to prepare our hearts, minds and souls to celebrate the GREAT GIFT that GOD Gave us more than two thousand years ago… The GIFT OF LIGHT CAME TO EARTH TO DIE FOR OUR SINS….


The_Gift_of_the_Magi

Gift Of The Magi By O. Henry
Musical by Susan Bingham
Directed by Julian Schlusberg

Story (1906) Gift Of The Magi By O. Henry

One dollar and eighty-seven cents. That was all. And sixty cents of it was in pennies. Pennies saved one and two at a time by bulldozing the grocer and the vegetable man and the butcher until one’s cheeks burned with the silent imputation of parsimony that such close dealing implied. Three times Della counted it. One dollar and eighty- seven cents. And the next day would be Christmas.

There was clearly nothing to do but flop down on the shabby little couch and howl. So Della did it. Which instigates the moral reflection that life is made up of sobs, sniffles, and smiles, with sniffles predominating.

While the mistress of the home is gradually subsiding from the first stage to the second, take a look at the home. A furnished flat at $8 per week. It did not exactly beggar description, but it certainly had that word on the lookout for the mendicancy squad.

In the vestibule below was a letter-box into which no letter would go, and an electric button from which no mortal finger could coax a ring. Also appertaining thereunto was a card bearing the name “Mr. James Dillingham Young.”

The “Dillingham” had been flung to the breeze during a former period of prosperity when its possessor was being paid $30 per week. Now, when the income was shrunk to $20, though, they were thinking seriously of contracting to a modest and unassuming D. But whenever Mr. James Dillingham Young came home and reached his flat above he was called “Jim” and greatly hugged by Mrs. James Dillingham Young, already introduced to you as Della. Which is all very good.

Della finished her cry and attended to her cheeks with the powder rag. She stood by the window and looked out dully at a gray cat walking a gray fence in a gray backyard. Tomorrow would be Christmas Day, and she had only $1.87 with which to buy Jim a present. She had been saving every penny she could for months, with this result. Twenty dollars a week doesn’t go far. Expenses had been greater than she had calculated. They always are. Only $1.87 to buy a present for Jim. Her Jim. Many a happy hour she had spent planning for something nice for him. Something fine and rare and sterling–something just a little bit near to being worthy of the honor of being owned by Jim.

There was a pier-glass between the windows of the room. Perhaps you have seen a pierglass in an $8 flat. A very thin and very agile person may, by observing his reflection in a rapid sequence of longitudinal strips, obtain a fairly accurate conception of his looks. Della, being slender, had mastered the art.

Suddenly she whirled from the window and stood before the glass. Her eyes were shining brilliantly, but her face had lost its color within twenty seconds. Rapidly she pulled down her hair and let it fall to its full length.

Now, there were two possessions of the James Dillingham Youngs in which they both took a mighty pride. One was Jim’s gold watch that had been his father’s and his grandfather’s. The other was Della’s hair. Had the queen of Sheba lived in the flat across the airshaft, Della would have let her hair hang out the window some day to dry just to depreciate Her Majesty’s jewels and gifts. Had King Solomon been the janitor, with all his treasures piled up in the basement, Jim would have pulled out his watch every time he passed, just to see him pluck at his beard from envy.

So now Della’s beautiful hair fell about her rippling and shining like a cascade of brown waters. It reached below her knee and made itself almost a garment for her. And then she did it up again nervously and quickly. Once she faltered for a minute and stood still while a tear or two splashed on the worn red carpet.

On went her old brown jacket; on went her old brown hat. With a whirl of skirts and with the brilliant sparkle still in her eyes, she fluttered out the door and down the stairs to the street.

Where she stopped the sign read: “Mne. Sofronie. Hair Goods of All Kinds.” One flight up Della ran, and collected herself, panting. Madame, large, too white, chilly, hardly looked the “Sofronie.”

“Will you buy my hair?” asked Della.

“I buy hair,” said Madame. “Take yer hat off and let’s have a sight at the looks of it.”

Down rippled the brown cascade.

“Twenty dollars,” said Madame, lifting the mass with a practised hand.

“Give it to me quick,” said Della.

Oh, and the next two hours tripped by on rosy wings. Forget the hashed metaphor. She was ransacking the stores for Jim’s present.

She found it at last. It surely had been made for Jim and no one else. There was no other like it in any of the stores, and she had turned all of them inside out. It was a platinum fob chain simple and chaste in design, properly proclaiming its value by substance alone and not by meretricious ornamentation–as all good things should do. It was even worthy of The Watch. As soon as she saw it she knew that it must be Jim’s. It was like him. Quietness and value–the description applied to both. Twenty-one dollars they took from her for it, and she hurried home with the 87 cents. With that chain on his watch Jim might be properly anxious about the time in any company. Grand as the watch was, he sometimes looked at it on the sly on account of the old leather strap that he used in place of a chain.

When Della reached home her intoxication gave way a little to prudence and reason. She got out her curling irons and lighted the gas and went to work repairing the ravages made by generosity added to love. Which is always a tremendous task, dear friends–a mammoth task.

Within forty minutes her head was covered with tiny, close-lying curls that made her look wonderfully like a truant schoolboy. She looked at her reflection in the mirror long, carefully, and critically.

“If Jim doesn’t kill me,” she said to herself, “before he takes a second look at me, he’ll say I look like a Coney Island chorus girl. But what could I do–oh! what could I do with a dollar and eighty- seven cents?”

At 7 o’clock the coffee was made and the frying-pan was on the back of the stove hot and ready to cook the chops.

Jim was never late. Della doubled the fob chain in her hand and sat on the corner of the table near the door that he always entered. Then she heard his step on the stair away down on the first flight, and she turned white for just a moment. She had a habit for saying little silent prayer about the simplest everyday things, and now she whispered: “Please God, make him think I am still pretty.”

The door opened and Jim stepped in and closed it. He looked thin and very serious. Poor fellow, he was only twenty-two–and to be burdened with a family! He needed a new overcoat and he was without gloves.

Jim stopped inside the door, as immovable as a setter at the scent of quail. His eyes were fixed upon Della, and there was an expression in them that she could not read, and it terrified her. It was not anger, nor surprise, nor disapproval, nor horror, nor any of the sentiments that she had been prepared for. He simply stared at her fixedly with that peculiar expression on his face.

Della wriggled off the table and went for him.

“Jim, darling,” she cried, “don’t look at me that way. I had my hair cut off and sold because I couldn’t have lived through Christmas without giving you a present. It’ll grow out again–you won’t mind, will you? I just had to do it. My hair grows awfully fast. Say `Merry Christmas!’ Jim, and let’s be happy. You don’t know what a nice– what a beautiful, nice gift I’ve got for you.”

“You’ve cut off your hair?” asked Jim, laboriously, as if he had not arrived at that patent fact yet even after the hardest mental labor.

“Cut it off and sold it,” said Della. “Don’t you like me just as well, anyhow? I’m me without my hair, ain’t I?”

Jim looked about the room curiously.

“You say your hair is gone?” he said, with an air almost of idiocy.

“You needn’t look for it,” said Della. “It’s sold, I tell you–sold and gone, too. It’s Christmas Eve, boy. Be good to me, for it went for you. Maybe the hairs of my head were numbered,” she went on with sudden serious sweetness, “but nobody could ever count my love for you. Shall I put the chops on, Jim?”

Out of his trance Jim seemed quickly to wake. He enfolded his Della. For ten seconds let us regard with discreet scrutiny some inconsequential object in the other direction. Eight dollars a week or a million a year–what is the difference? A mathematician or a wit would give you the wrong answer. The magi brought valuable gifts, but that was not among them. This dark assertion will be illuminated later on.

Jim drew a package from his overcoat pocket and threw it upon the table.

“Don’t make any mistake, Dell,” he said, “about me. I don’t think there’s anything in the way of a haircut or a shave or a shampoo that could make me like my girl any less. But if you’ll unwrap that package you may see why you had me going a while at first.”

White fingers and nimble tore at the string and paper. And then an ecstatic scream of joy; and then, alas! a quick feminine change to hysterical tears and wails, necessitating the immediate employment of all the comforting powers of the lord of the flat.

For there lay The Combs–the set of combs, side and back, that Della had worshipped long in a Broadway window. Beautiful combs, pure tortoise shell, with jewelled rims–just the shade to wear in the beautiful vanished hair. They were expensive combs, she knew, and her heart had simply craved and yearned over them without the least hope of possession. And now, they were hers, but the tresses that should have adorned the coveted adornments were gone.

But she hugged them to her bosom, and at length she was able to look up with dim eyes and a smile and say: “My hair grows so fast, Jim!”

And them Della leaped up like a little singed cat and cried, “Oh, oh!”

Jim had not yet seen his beautiful present. She held it out to him eagerly upon her open palm. The dull precious metal seemed to flash with a reflection of her bright and ardent spirit.

“Isn’t it a dandy, Jim? I hunted all over town to find it. You’ll have to look at the time a hundred times a day now. Give me your watch. I want to see how it looks on it.”

Instead of obeying, Jim tumbled down on the couch and put his hands under the back of his head and smiled.

“Dell,” said he, “let’s put our Christmas presents away and keep ‘em a while. They’re too nice to use just at present. I sold the watch to get the money to buy your combs. And now suppose you put the chops on.”

The magi, as you know, were wise men–wonderfully wise men–who brought gifts to the Babe in the manger. They invented the art of giving Christmas presents. Being wise, their gifts were no doubt wise ones, possibly bearing the privilege of exchange in case of duplication. And here I have lamely related to you the uneventful chronicle of two foolish children in a flat who most unwisely sacrificed for each other the greatest treasures of their house. But in a last word to the wise of these days let it be said that of all who give gifts these two were the wisest. O all who give and receive gifts, such as they are wisest. Everywhere they are wisest. They are the magi.

 

Hạ Mình Ăn Năn


DC9
Tulip Châu Sa

Hạ Mình Ăn Năn

Tulip Châu Sa gởi một người: Đừng cố gắng ngụy biện bằng những điều dối trá trong khi bản thân bạn biết mình đang nói dối để biện bạch cho những việc làm quá sai trái của chính mình.  Hãy hạ mình và ăn năn với Chúa.  Đây là con đường duy nhất dẫn bạn đến THE LIBERTY, bạn sẽ được tự do mọi bề trong đời sống của chính bạn.  Bạn đang làm nô lệ cho tội lỗi, hãy ăn năn để được sống tự do!

Mục Sư Phạm Thiên Ân-Trạm Trưởng Trạm Vòng Cầu Nguyện 24/7 HTS

Tội lỗi ẨN NÚP SÂU trong những điều TƯỞNG CHỪNG như rất đẹp đẽ và ngọt ngào. Nó đầy HẤP DẪN và LÔI CUỐN, lôi cuốn mạnh đến nỗi người ta KHÓ CƯỠNG LẠI được, và lôi cuốn nhanh đến nỗi nhiều khi người ta KHÔNG KỊP DỪNG LẠI để suy nghĩ một cách sáng suốt.

Điều duy nhất có thể giúp chúng ta chiến thắng tội lỗi là sự NHẬN BIẾT và KÍNH SỢ ĐỨC CHÚA TRỜI!

Ngay bây giờ, có thể bạn đang ngụp lặn trong hố sâu của một tội lỗi kinh tởm nào đó, nhưng nếu bạn đọc được thông điệp này và nhận biết Đức Chúa Trời, hãy bắt đầu BÀY TỎ LÒNG KÍNH SỢ NGÀI, hạ mình xuống ĂN NĂN, thống hối, và bạn sẽ được TỰ DO NGAY LẬP TỨC!

Đây là những Lời tuyệt vời dành cho bạn: “Sự KÍNH SỢ ĐỨC GIÊ-HÔ-VA, ấy là khởi đầu sự KHÔN NGOAN; sự NHẬN BIẾT ĐẤNG THÁNH, đó là sự THÔNG SÁNG.” (Kinh Thánh – Châm Ngôn 9:10) và: “… nếu chúng ta XƯNG TỘI MÌNH thì Ngài là thành tín, công chính để THA TỘI cho chúng ta và TẨY SẠCH chúng ta khỏi mọi điều bất chính.” (Kinh Thánh – I Giăng 1:9)

 

Your Choices Matter- Pastor Mark Trotter.


DC9

Tulip Châu Sa

Your Choices Matter
By Pastor Mark Trotter.

“Exit now if you made a wrong choice, Châu!”-Said The Lord, Jesus Christ.
choices-

Regardless of our age or stage of life, we’re all faced with CHOICES and DECISIONS that are far more important and far-reaching than we probably even realize. In light of that, could I take just a second today to remind all of us of three significant things about our CHOICES?

1) Our choices MATTER!
In fact, they matter A LOT! Not only do they DESCRIBE us—in time, they begin to DEFINE us! We become known by them. (Pro.4:23)

2) Our choices have CONSEQUENCES!
They’ll either have POSITIVE consequences or, they’ll have NEGATIVE ones—but they’ll ALWAYS have consequences! We obviously determine whether they’ll be POSITIVE or NEGATIVE based on whether we’re following the leading of the SPIRIT, or the leading of our own sinful FLESH when we’re making our choices. (Gal.6:7-8)

3) Our choices determine DIRECTION and DESTINY!
The fact is, y’all, we’re all gonna END UP somewhere in life. WHERE we END UP is anything but RANDOM though! When it’s all said and done, we’ll have gotten there, very simply, by the CHOICES we made. (Pro.4:26-27; Ps.119:59)

May we follow the advice the last surviving knight gave to Indiana Jones in The Last Crusade—which just happens to be the same advice God gave to us thru Solomon all the way thru The Book of Proverbs… “You must choose. But CHOOSE WISELY! For as the true Grail will bring you life, the false Grail will take it from you.”

happy1

 

TÌNH ĐẦU David và Jonathan


DC9

Tulip Châu Sa

Ở đời ta tìm thầy rất dễ vì hai lý do: 1) ai cũng muốn làm thầy nên thầy vô số, và 2) đóng tiền là có thầy nên thầy nhan nhản.

Siêu Keo CCOGCTMM
By Thang Chu

Hicks, David and Jonathan1

Nhiều người nói khủng hoảng trong đạo Tin Lành là khủng hoảng lãnh đạo.  Nhưng suy cho cùng, các hội thánh, từ mục sư, trưởng lão, chấp sự, đến tín đồ, không bị khủng hoảng lãnh đạo, nhưng khủng hoảng tình bạn.  Lãnh đạo mà không dám lãnh đạn tức là người lãnh đạo không phải là bạn.  Không phài là philos.

Ta thường đem tình bạn Bá Nha & Tử Kỳ trong tích Tàu để ví tình bạn tri âm, nhưng đó chỉ là tình bạn ích kỷ tìm người hiểu mình để thỏa mãn tâm sự mình.  Để học và hành và tìm tình bạn thật, muôn đời bất diệt, mãi là gương sáng, phải học từ tình bạn Đa-vít – Giô-na-than.

Như tiếng sét ái tình nam nữ, “Đa-vít vừa tâu xong với vua Sau-lơ, tâm hồn Giô-na-than liền gắn bó với tâm hồn Đa-vít, và Giô-na-than yêu mến Đa-vít như chính mình.” (1 Sa-mu-ên 18:1, Arms of Hope).  

Không cần uống máu ăn thề là điều ghê tởm với Chúa Trời, và máu thề đó dễ lắm mà phai thành nước lã, hai người liền “lập giao ước kết bạn với nhau” (c. 3). Và trong tình bạn chân thật luôn luôn phải có lời nói đi đôi hành động, “Giô-na-than cởi áo khoác đang mặc cho Đa-vít, cũng cho luôn binh phục, gươm, cung và đai thắt lưng của mình nữa” (c. 4).

Đừng tưởng làm việc này là dễ!  Hành động trên của Giô-na-than là điều sinh tử, là chứng minh sẵn sàng sống chết cho bạn.

Áo của Giô-na-than là áo bào hoàng tử khoác lên áo vũ cơ hàn của kẻ chăn súc vật bẩn thỉu tên Đa-vít.  Binh phục của Giô-na-than là binh phục dũng tướng oai nghi khoác lên y phục rách rưới của kẻ thường dân tiểu tốt tên Đa-vít.  Hơn tất cả, Giô-na-than lại trao luôn cả gươm, cung, và đai thắt lưng của mình cho người bạn Đa-vít.  Nghĩa là trao cả quyền hành quân sự và mạng sống mình cho Đa-vít, vì toàn binh sĩ Y-sơ-ra-ên không có vũ khí:

Bấy giờ, trong cả xứ Y-sơ-ra-ên không tìm được một người thợ rèn, vì người Phi-li-tin tự bảo, ‘Phải cấm không cho bọn Hy-bá rèn gươm hoặc giáo.’  Toàn dân Y-sơ-ra-ên đều phải xuống mướn người Phi-li-tin mài lưỡi cày, cuốc, rìu, hoặc lưỡi hái . . . Vì thế, trong ngày giao tranh, không một người lính nào của Sau-lơ hoặc Giô-na-than có được trong tay một cây gươm cây giáo gì cả.  Chỉ vua Sau-lơ và con trai vua là Giô-na-than mới có.                                                                                            (1 Samuên 13:19, 20, 22)

Một tình bạn có một không hai!

Buổi sơ giao mà đã thắm thiết tình bạn như vậy, nên ngày tháng trôi qua tình sơ giao càng thành thâm giao.  Với đôi uyên ương thì:

Yêu ai yêu cả đường đi
Ghét ai ghét cả tông chi họ hàng

Nhưng với đôi bạn đó thì, “Giô-na-than lập giao ước với Đa-vít và gia đình chàng . . . ‘Xin CHÚA ở giữa anh và tôi, giữa dòng dõi anh và dòng dõi tôi, mãi mãi’” (20:16, 42).

Với bí quyết gì mà đôi bạn đó giữ được tình bạn trung thành nới đến cả gia đình dòng họ? 

Với đôi uyên ương thì có trăng sao làm chứng:

                       Trăng thề còn đó trơ trơ

                   Dám xa xôi mặt mà thưa thớt lòng

Rồi trăng tàn sao rụng thì tình cũng vội tung đôi cánh!

Nhưng với tình bạn Giô-na-than – Đa-vít, với tình bạn trong Chúa, thì nền tảng của lời thề đó là Chúa Trời đời đời không đổi, “Còn về lời hứa nguyện chúng ta đã hứa với nhau, có CHÚA ở giữa chúng ta mãi mãi” (20:23).

“Có CHÚA ở giữa chúng ta mãi mãi” (CCOGCTMM) đã khiến trong buổi chia ly, “Hai người bạn ôm nhau hôn và khóc nức nở cho đến khi Đa-vít  dằn được cơn xúc động” (20:41). 

CCOGCTMM đã khiến hoàng tử Giô-na-than sẵn sàng từ bỏ quyền tối cao, chức tối trọng của một vị vua tương lai khi dám công khai tuyên bố: “Chính anh sẽ làm vua dân Y-sơ-ra-ên, còn tôi sẽ đứng thứ nhì, sau anh một bậc.  Ngay cả vua Sau-lơ cha tôi, cũng biết điều ấy” (23:17).

CCOGCTMM đã khiến đôi bạn trong cảnh sinh tử vẫn liên tục tái “lập giao ước với nhau trước mặt CHÚA, Đa-vít tiếp tục ở lại Hô-rết, còn Giô-na-than trở về nhà” (c. 18).

CCOGCTMM đã khiến Đa-vít viết điếu ca thương tiếc than khóc người bạn khiến người tình cũng ghen tỵ:

                          Anh Giô-na-than ơi! 

                          Vì anh, lòng tôi đau như cắt! 

                          Tôi quý mến anh vô cùng!

                          Tình bạn của anh đối với tôi thật tuyệt vời,

                          Hơn hẳn tình yêu của phụ nữ.

                          Than ôi, dũng sĩ nay ngã gục!

                          Vũ khí chiến tranh nay tan tành! 

                                                              (2 Sa-mu-ên 1:26-27)

CCOGCTMM đã khiến Đa-vít khi đã đăng quang ngôi vua vẫn không quên dòng dõi người bạn quá cố Giô-na-than: “Vua Đa-vít bảo: ‘Cháu đừng sợ.  Vì ông Giô-na-than, cha cháu, ta sẽ giữ lòng thành với cháu.  Ta sẽ trả lại cho cháu tất cả ruộng đất của vua Sau-lơ, ông nội cháu; hơn nữa, cháu sẽ dùng bữa cùng bàn với ta mãi mãi’” (9:7)

CCOGCTMM đã khiến hoàng tử Giô-na-than cứu mạng gã chăn chiên Đa-vít, để rồi lời tiên tri của Chúa Trời được ứng nghiệm: “Khi những người Pha-ri-si đang tụ họp với nhau, Đức Giê-su hỏi họ: ‘Các ông nghĩ thế nào về Chúa Cứu Thế?  Ngài thuộc dòng dõi của ai?’  Họ đáp: ‘Dòng dõi vua Đa-vít’” (Ma-thi-ơ 22:41, 42).

Không có nền tảng CCOGCTMM như Giô-na-than đã thốt, Đa-vít đã chết.  Và hết!  Cái tên Giê-su, danh xưng là Đấng Cứu Thế, chỉ là một huyền thoại giả tưởng.

Cho nên, không ai hiểu được tình bạn cho bằng Chúa Giê-su, con của Đa-vít, the son of David.

Tinh thần “Quân, Sư, Phụ” đã ngàn năm vun trồng lối sống nô lệ cho thói quan liêu của dân tộc Việt.  Nhưng tinh thần của Chúa Giê-su, tinh thần của Đấng Sáng Tạo, sẽ giải cứu dân tộc Việt, “Ta không gọi các con là đầy tớ nữa, vì đầy tớ không biết điều chủ mình làm; nhưng Ta đã gọi các con là bạn hữu” (Giăng 15:15).

Chúa Giê-su muốn môn đồ Ngài biết việc Chúa làm, điều Chúa nghĩ, cách Chúa sống, nên Ngài gọi chúng ta là “bạn” để chúng ta là bạn.  Qua tình bạn, và chỉ qua tình bạn, thì danh Chúa mới được vinh hiển như qua tình bạn Giô-na-than – Đa-vít đã duy trì dòng dõi Đa-vít để làm vinh hiển danh Chúa Trời.

Ai cũng muốn làm thầy nên chẳng ai có bạn.  Ngược lại, nếu ai cũng muốn làm bạn thì ai cũng là thầy vì chính bạn là vị thầy dạy tình yêu thương, là bài học lớn hơn hết, khó hơn hết, vĩ đại hơn hết.

Vấn nạn trầm trọng của dân tộc Việt là cha mẹ không là bạn với con cái, thầy cô không là bạn với học trò, chính quyền không là bạn dân.  Tệ hơn nữa, mục sư không là bạn hiền, tín đồ không là bạn thiết.  Đó là khủng hoảng tâm linh, dẫn đến chủ nghĩa độc tài chủ-tớ, chúa-tôi, thầy-trò, quan-quân.  

Chúa Giê-su đã có giải pháp cho khủng hoảng này.  Siêu keo CCOGCTMM, đã gắn chặt tình bạn Giô-na-than—Đa-vít, sẽ mãi còn tác dụng vì được sản xuất từ Đấng Tạo Hóa, là Đấng phán rằng: 

                       Nhưng ngươi, hỡi Y-sơ-ra-ên, tôi tớ Ta

                       Hỡi Gia-cốp, kẻ ta chọn lựa;

                       Là dòng dõi Áp-ra-ham, bạn Ta.
Ê-sai 41:8

 

November 21, 2013
Thang Chu

 

Thank You, Father!


DC9

Tulip Châu Sa

Thank You for your GREAT LOVE and PROMISES, Father!  It took me 14 years to realize that YOU HAS NEVER LEFT ME AND YOU WILL NEVER WILL BE! I LOVE YOU, FATHER!

1452361_10202551602221730_1381736497_n

 

SỰ THẬT – THE TRUTH ( THE LATEST EDITION)

 
DC9

Tulip Châu Sa

Cha yêu dấu!
Con cầu xin Chúa cho MỘT người bạn nào đó của con mà con quan tâm thương mến chưa được biết đến TIN MỪNG CỦA NGÀi, SỰ THẬT VỀ NGÀI, DANH CỦA NGÀI thì hôm nay con xin Cha cho bạn con cơ hội đọc bài viết, bài làm chứng này. Con cầu xin với cả tấm lòng con trong DANH CỦA CỨU CHÚA JESUS, AMEN!

SỰ THẬT

Khi còn nhỏ, tôi cùng ba mẹ sống chung nhà với ông bà nội. Đó là một căn nhà cũ đã bắt đầu xuống cấp ở Sài Gòn. Tôi còn nhớ lúc đó, ba mẹ và tôi mỗi đêm trải chiếu nằm ngủ trên gác lửng ọp ẹp. Trên căn gác đó, có một thứ làm tôi rất sợ, đó là cái bàn thờ lớn khói hương nghi ngút. Trên bàn thờ, tôi thấy có những bức tượng và hình những người mà tôi chưa từng gặp. Sau này tôi mới biết đó là tượng Phật tổ Như Lai, tượng Phật bà Quan Âm, hình Quan Công, một vị tướng bên Tàu thời xưa, và hình một vài người thân đã chết. Mỗi lần bước lên gác, tôi cảm thấy một cái gì đó lành lạnh ở sống lưng, nhất là vào những đêm tối, khi mà những bóng đèn xanh đỏ trên bàn thờ phát ra ánh sáng ma quái.

Ngày nào ông nội tôi cũng lên gác, đứng trước bàn thờ tụng kinh, niệm Phật, dáng vẻ rất cung kính. Bà nội và các cô chú trong gia đình cũng thường hay thắp nhang, khấn vái gì đó trước bàn thờ với vẻ mặt huyền bí. Tôi cũng thấy người lớn trong nhà thường đặt một lọ hoa vạn thọ hoặc hoa cúc trên bàn thờ cùng với trái cây và những chén cơm trắng đầy vun lên. Nhiều lúc tôi thắc mắc hỏi ông nội: “Ông ơi, tại sao lại phải để trái cây và cơm trên bàn thờ hả ông?” Ông nội giải thích: “Để chư Phật và ông bà về ăn con à!” Tôi liền hỏi tiếp: “Ủa, con có thấy ai về ăn đâu, toàn là người trong nhà mình ăn không mà!” Ông nội gắt: “Thôi, im đi! Đừng có hỏi lung tung nữa! Rồi mày cũng giống như ba mẹ của mày thôi. Cái thứ bỏ ông bỏ bà!” Khi thấy ông nội đã bắt đầu nổi cáu, tôi bèn lảng đi chỗ khác, không dám hỏi gì nữa. Nhưng trong lòng tôi rất ấm ức. Tôi thấy trong chuyện này có cái gì đó rất vô lý. Cuối cùng, tôi quyết định hỏi ba. Ba tôi yên lặng lắng nghe rồi ôn tồn trả lời: “Con à, người chết rồi thì làm sao về ăn được. Những bức tượng và những hình ảnh trên bàn thờ cũng không thể ăn uống, vì chúng chỉ là những thứ do con người tạo ra mà thôi. Chúng có mắt mà không thấy, có tai mà không nghe, có mũi mà không ngửi được, có miệng mà không nói, không ăn uống gì được, có tay chân mà không thể hoạt động được!” Tôi bức xúc nói tiếp: “Vậy tại sao con thấy ngày nào ông bà nội và các cô chú cũng để đồ ăn lên bàn thờ rồi nói chuyện với mấy bức tượng và mấy tấm hình người chết đó? Ba không chịu làm giống như vậy, ông nội nói với con là ba bỏ ông, bỏ bà đó!” Ba tôi thở dài, yên lặng một lát rồi lần lượt giải đáp tất cả những thắc mắc trong đầu óc trẻ thơ của tôi.

Cuối cùng thì tôi đã hiểu tất cả. Sở dĩ ông bà nội và các cô chú coi ba như đồ bất hiếu, bỏ ông bỏ bà, là vì ba đã chấm dứt việc thờ cúng hình tượng, thờ cúng người chết, để theo đạo Tin Lành, là đạo của Chúa Jesus, tức là Đức Chúa Trời hay Ông Trời (theo cách gọi của dân gian). Thật lòng mà nói, tôi chẳng thấy ba tôi bất hiếu hay bỏ ông bỏ bà ở chỗ nào cả. Ba là người lễ phép và tôn trọng ông bà nội hơn các cô chú trong gia đình. Ba cũng đối xử với mọi người một cách tử tế, đàng hoàng, không bao giờ nhậu nhẹt say xỉn hay gây sự với ai. Ba đưa cho tôi đọc quyển Kinh Thánh, tức là Lời của Đức Chúa Trời, và tôi thấy trong đó dạy rất hay, rất thực tế. Chữ “hiếu” được Chúa nhắc đi nhắc lại rất nhiều lần, và đây là điều quan trọng đầu tiên trong cách con người đối xử với nhau. Chúa dạy chúng ta hiếu thảo với ông bà, cha mẹ khi họ còn sống, vì chỉ khi còn sống họ mới ăn được thức ăn mà chúng ta nấu, nghe được những lời yêu thương, tử tế mà chúng ta nói với họ, và hưởng được những điều tốt đẹp mà chúng ta làm cho họ. Nhiều người khi cha mẹ còn sống thì chửi cha mắng mẹ, làm nhiều điều khiến cha mẹ buồn lòng đến nỗi sinh bệnh mà chết. Khi đó, họ làm đám tang thật hoành tráng, khóc lóc dầm dề, thậm chí thuê thêm một đội khóc mướn, khua chiêng, đánh trống, thổi kèn, tụng kinh, gõ mõ rền vang khắp xóm. Rồi họ lập bàn thờ cho cha mẹ, thắp nhang, cúng bái, làm đám giỗ và đủ thứ thủ tục nhập nhằng khác. Họ tự cho rằng mình đã hiếu thảo với cha mẹ, và có lẽ nhiều người khác cũng lầm tưởng như vậy. Nhưng ông bà ta ngày xưa đã quá chán ngán, đắng cay với cái kiểu đạo đức giả này nên đã thốt lên: “Sống không cho ăn, chết làm cỗ tế ruồi!”

Người Tin Lành chân chính là người hết lòng hiếu thảo với ông bà, cha mẹ khi họ còn sống. Khi ông bà, cha mẹ qua đời, chúng tôi lo chôn cất đàng hoàng và luôn tưởng nhớ đến họ với tất cả lòng kính trọng. Chúng tôi không thờ cúng cha mẹ, không làm đám giỗ, nhưng chúng tôi có những dịp nhóm họp gia đình, gia tộc để ôn lại kỷ niệm về những người đã khuất. Người chủ gia đình hoặc người trưởng tộc sẽ kể lại cho con cháu nghe về tiểu sử của những người thân đã qua đời. Chúng tôi cùng nhau tạ ơn Chúa về những điều tốt mà các bậc tiền nhân đã làm được, và nhắc nhở nhau làm tốt lại những gì mà họ làm chưa tốt hoặc làm đúng lại những gì mà trước đây họ đã sai lầm. Chúa dạy chúng ta sống thực tế chứ không ảo tưởng, mơ hồ, tự lừa dối mình. Nhiều người thật sai lầm khi thần thánh hóa ông bà, cha mẹ của họ. Họ cho rằng cần phải làm y như những gì ông bà, cha mẹ của họ đã từng làm thì mới là hiếu thảo. Thật ra, ông bà, cha mẹ cũng chỉ là con người, họ có những cái đúng và những cái sai. Cái gì họ làm đúng, làm tốt, chúng ta nên giữ lại và phát huy. Nhưng cái gì họ làm sai, làm dở, chúng ta cần làm lại cho đúng để lấy lại thanh danh cho gia đình, dòng họ. Ngày hôm nay, có nhiều kẻ giết người, cướp của, nhiều người làm đĩ điếm, nhiều vị tham nhũng, hối lộ, v.v… Vậy chẳng lẽ 100 năm sau, con cháu họ cứ nhắm mắt đi vào vết xe đổ của họ để rồi tiếp tục giết người, cướp của, làm đĩ điếm, tham nhũng, hối lộ…sao??? Chắc chắn, không có người hiểu biết nào lại suy nghĩ hoặc phát biểu như vậy!

Chúa dạy chúng ta hiếu kính cha mẹ nhưng không thờ phượng vì lẽ đó. Con người chúng ta bất toàn, ai cũng có những điều xấu xa hoặc trong tư tưởng, hoặc trong lời nói, hoặc trong hành vi. Không ai xứng đáng nhận sự thờ phượng của ai cả. Những hình tượng càng không phải là đối tượng mà chúng ta thờ phượng, đơn giản là vì chúng được tạo ra bởi chính bàn tay con người. Người Tin Lành chỉ thờ phượng một mình Đức Chúa Trời, là Đấng Tạo Hóa, mà thôi. Ngài là Đấng cao cả, vĩ đại nhất, là cội nguồn của mọi sự, vì vậy chúng ta thờ phượng Ngài là đúng và đủ nhất. Nếu bạn nói rằng phải thờ người đã khuất thì tôi xin hỏi bạn thờ bao nhiêu là đủ? Bạn có biết trong gia tộc của bạn có bao nhiêu người đã qua đời không? Trước bạn, đã có hàng ngàn, thậm chí hàng triệu ông bà. Nếu họ thật sự linh thiêng như bạn tin và bạn phải thờ, thì bạn nghĩ bạn có đủ khả năng để làm một cái bàn thờ cực lớn đến nỗi chứa hết chừng đó bài vị hoặc hình tượng không? Bạn có đủ nhang để thắp không? Có đủ đồ ăn để cúng không? Không ai có thể làm như vậy! Và chẳng lẽ không làm như vậy thì chúng ta bất hiếu, lỗi đạo làm người sao?

Đây là chỗ rối rắm của nhiều người, cũng giống như nhà nội tôi vậy. Họ thờ đủ thứ, mất quá nhiều thời giờ, công sức, và tiền bạc vào những việc cúng bái, mê tín dị đoan, nhưng lòng họ luôn sợ hãi, bất an về nhiều điều trong cuộc sống, thân thể họ thì đầy bệnh tật, ốm đau. Khi tôi lớn lên, ông bà nội tôi lần lượt qua đời vì những căn bệnh nan y. Các cô chú thì gặp đủ thứ bất trắc trong cuộc sống, nào là tai nạn xe cộ, nào là mất mát của cải, nào là hôn nhân đổ vỡ. Tôi thấy việc thờ cúng hình tượng, thờ cúng người chết chẳng giúp ích gì cho họ cả. Rồi họ cũng phải tự gánh lấy mọi thứ, lại còn phải thêm gánh nặng thờ cúng nữa. Tôi đã chứng kiến nhiều gia đình ở miền quê nghèo, không đủ ăn, không đủ mặc, con cái nheo nhóc, không được học hành đàng hoàng. Nhưng không ít thì nhiều, ngày nào họ cũng phải tốn tiền thắp nhang, cúng bái. Nếu họ làm như vậy mà thấy bình an, vui vẻ, phước hạnh, thì cũng nên làm lắm. Nhưng vấn đề ở chỗ là họ làm một cách nặng nề, khổ sở. Họ nhăn mặt rầu rĩ, miệng thì luôn than vãn, trách móc. Đó là chưa kể ngày hôm nay, các nhà khoa học trên thế giới đã dày công nghiên cứu và đi đến kết luận rằng khói nhang tiềm ẩn nguy cơ mắc bệnh ung thư rất cao. “Khi bị đốt, hương (nhang) sẽ tỏa ra một lượng lớn các chất có khả năng gây ung thư. Nồng độ của một trong các chất được coi là có thể gây ung thư phổi tại một ngôi chùa thông khí kém ở Đài Loan cao hơn 45 lần so với tại nhà của những người hút thuốc. Hương cũng gây ô nhiễm môi trường nhiều hơn so với khói mà xe cộ nhả ra tại những giao lộ ở thành phố.” Đây là kết luận mà nhóm nghiên cứu của ông Ta Chang Lin, Đại Học Quốc Gia Cheng Kung (Đài Loan) đã đưa ra trong tạp chí Nhà Khoa Học Mới của nước Anh…

Tại sao họ lại phải tự làm khổ mình như vậy? Sao không dùng số tiền đó lo cho người sống? Giả sử con cái họ vì thiếu ăn, thiếu mặc mà lâm bệnh tật rồi chết đi thì họ sẽ làm thế nào? Lại tiếp tục đưa lên bàn thờ để thắp nhang, cúng bái sao??? Hoặc nếu họ vì hít phải khói nhang nhiều quá mà mắc bệnh ung thư thì phải xoay sở thế nào đây khi mà trong gia đình, cơm còn không đủ ăn, áo còn không đủ mặc??? Thật đau lòng, xót dạ khi chứng kiến những cảnh này! Những người chết thì đã xong phần của họ rồi. Chúng ta hãy hết lòng yêu thương, đùm bọc, nâng đỡ những người đang còn sống để họ có một cuộc sống tốt đẹp hơn. Đó mới là cách cư xử khôn ngoan, đó mới là đạo làm người, và đó cũng chính là cách sống đẹp đẽ mà Chúa đã dạy con người. Tôi tin rằng bất cứ một người nào có sự hiểu biết và có lương tâm cũng đều muốn sống như vậy.

Năm 15 tuổi, sau tất cả những gì tôi đã chứng kiến và nhận thức được, tôi quyết định tin Chúa thật sự. Tôi thấy việc này thật đơn giản và hợp lý: Chúng ta ai cũng ăn cơm Trời, uống nước Trời, hít thở không khí của Trời. Ngay cả mạng sống của chúng ta cũng là do Trời ban cho, và “Trời kêu ai, nấy dạ.” Vậy thì tại sao chúng ta lại không chịu thờ Trời (Chúa), mà lại thờ lẫn nhau, và tệ hơn nữa, thờ lạy những hình tượng do chính bàn tay con người đã nắn nên??? Tại sao lại khước từ Đấng Tạo Hóa để thờ lạy những vật thọ tạo??? Từ ngàn xưa, ông bà ta đã tin rằng “Thiên sanh nhân.” (nghĩa là Trời sinh ra con người), và “Cây có cội, nước có nguồn.” Kinh Thánh cho biết rằng Đức Chúa Trời đã sáng tạo nên muôn loài vạn vật, trong đó có loài người chúng ta, và Ngài khiến cho loài người sinh sản khắp nơi trên mặt đất để duy trì nòi giống. Như vậy, chúng ta biết ơn cha mẹ đã sinh ra chúng ta, nhưng chúng ta càng phải biết ơn Đức Chúa Trời bội phần hơn vì Ngài đã tạo dựng nên cả nhân loại này, trong đó có ông bà, cha mẹ, và có chúng ta. Chúng ta cũng phải có trách nhiệm thờ phượng Ngài nữa.

Kinh Thánh cho biết: “…mọi người đều đã phạm tội, thiếu mất vinh quang của Đức Chúa Trời.” (Rô-ma 3:23), và “…tiền công của tội lỗi là sự chết, nhưng sự ban cho của Đức Chúa Trời là sự sống đời đời trong Chúa Jesus Christ, Chúa chúng ta.” (Rô-ma 6:23). Thật vậy, con người chúng ta đầy những tội lỗi, hoặc trong hành vi, hoặc trong lời nói, hoặc trong tư tưởng. Tội lớn nhất và là tội đầu tiên của con người, dẫn đến nhiều tội khác, đó là tội phản nghịch, không chịu tin thờ Đức Chúa Trời, là Đấng đã sáng tạo nên mình, lại còn thờ ma lạy quỷ, thờ hình lạy tượng, xúc phạm, chọc giận Đức Chúa Trời. Kinh Thánh đã vạch rõ: “…mặc dù đã biết Đức Chúa Trời, họ vẫn không chịu tôn cao Ngài là Đức Chúa Trời và không tạ ơn Ngài, nhưng cứ suy luận viển vông; lòng dạ ngu muội của họ trở nên tăm tối. Họ tự xưng mình là khôn ngoan, nhưng đã trở nên điên dại. Họ đã đổi vinh quang của Đức Chúa Trời bất diệt để lấy hình tượng của loài người hư nát, hoặc của chim muông, thú vật, hay bò sát. Vì thế, Đức Chúa Trời đã phó mặc họ cho những tham dục của lòng mình, rơi vào sự nhơ nhuốc để làm nhục thân thể của nhau, vì họ đã đổi chân lý của Đức Chúa Trời để lấy sự dối trá; họ thờ phượng và phục vụ tạo vật thay vì Đấng Tạo Hóa, là Đấng đáng được ca ngợi đời đời…” (Rô-ma 1:21-25)

Đức Chúa Trời phán rằng mỗi con người đều sẽ chết một lần rồi bị phán xét. Thật vậy, sau khi tội nhân chết đi, họ sẽ nhận sự phán xét của chính Đức Chúa Trời, và bản án của họ là bị trầm luân đời đời nơi hỏa ngục, là nơi chìm ngập trong lửa trừng phạt chẳng bao giờ tàn tắt!

Nhưng Đức Chúa Trời đã loan báo cho chúng ta một Tin Lành, nghĩa là tin vui, tin tốt lành: “… Đức Chúa Trời yêu thương nhân loại đến nỗi đã ban Con Một của Ngài (nghĩa là Chúa Jesus), để bất cứ người nào tin Con ấy, không bị hư mất, mà nhận được sự sống vĩnh hằng.” (Giăng 3:16) Thật vậy, Chúa Jesus đã giáng thế, không phải để trở thành một nhà lãnh đạo chính trị hay tôn giáo, mà để chết trên thập tự giá vì tội lỗi của mỗi chúng ta, vì chính bạn và tôi. Ngài đã trả thay cho chúng ta món nợ tội lỗi mà đáng lẽ chính chúng ta phải trả cho sự gian ác của mình. Chúa Jesus là Con của Đức Chúa Trời, Đấng cầm quyền trên sự sống và sự chết. Vì vậy, sau khi đã hoàn tất sứ mạng chuộc tội cho nhân loại, Ngài đã sống lại như đã tiên báo. Sự sống lại (hay sự phục sinh) của Ngài đảm bảo cho chúng ta một sự cứu rỗi chắc chắn, một sự sống đời đời nơi Thiên Đàng khi chúng ta bằng lòng từ bỏ con đường tội lỗi của mình và đặt đức tin nơi Ngài.

Bạn thân mến, nếu giờ đây bạn đã ý thức được rằng mình là một tội nhân trước mặt Chúa, hãy ăn năn tội lỗi của mình và chạy đến với Ngài trước khi đã quá muộn. Kinh Thánh khẳng định rằng: “…bất cứ ai tiếp nhận Ngài, tức là tin danh Ngài, thì Ngài ban cho họ quyền để trở nên con của Đức Chúa Trời.” (Giăng 1:12) Điều này có nghĩa là khi bạn đặt niềm tin nơi Chúa Jesus, bạn sẽ được cứu rỗi linh hồn, được chữa lành bệnh tật, và được quyền thừa hưởng mọi ơn phước mà Đức Chúa Trời đã hứa ban cho những ai thuộc về Ngài. Nhờ quyền phép của Chúa, cuộc đời bạn sẽ trở nên ngày càng tốt đẹp hơn. Bạn sẽ sống trong sự yêu thương, chăm sóc, bảo vệ của Ngài, và Ngài cũng sẽ ban cho bạn năng lực để có thể sống một đời sống sung mãn, biết kính sợ Ngài, và yêu thương những người xung quanh. Bạn không cần phải thắp nhang, cúng bái, hoặc cố gắng trong vô vọng nữa, vì những gì cần làm cho bạn, Chúa Jesus đã làm rồi. Pascal – nhà bác học vĩ đại người Pháp – sau khi tin nhận Chúa Jesus, đã nói rằng: “Trong tâm hồn của mỗi con người đều có một khoảng trống, và chỉ có Chúa Jesus mới có thể lấp đầy khoảng trống ấy được.” Paul trước vốn là một viên chức chống phá Tin Lành, chuyên bắt bỏ tù và giết chết những người tin Chúa Jesus. Nhưng cuối cùng, chính ông cũng đã bị khuất phục trước ánh sáng chân lý của Ngài. Khi đã trở thành một nhà truyền giáo vĩ đại, ông tuyên bố: “Tôi coi tất cả mọi sự đều là hư không. Chỉ có sự nhận biết Chúa Jesus Christ là quan trọng hơn hết!” Vâng, những bậc vĩ nhân đã nói như thế. Và hôm nay, hàng tỉ người trên khắp các châu lục đang đặt niềm tin nơi Chúa Jesus. Nhiều người Việt Nam rất muốn tin nhận Ngài, nhưng họ lại e ngại vì nghĩ rằng làm như vậy là bất hiếu, phản nghịch với tiền nhân. Nhưng thật ra, họ đã bị lừa dối. Ông bà, tổ tiên của chúng ta vốn thờ Trời. Các vua của chúng ta thời xưa thường lập đàn để tế Trời. Trong tâm của người Việt luôn có Trời. Không ai dạy ai, bất cứ người Việt nào cũng đã từng mở miệng kêu Trời: vấp cục đá cũng kêu Trời, khổ quá cũng kêu Trời, vui quá cũng kêu Trời, cái gì cũng có thể kêu Trời. Khi bị bệnh nan y, bác sĩ bó tay, người ta thường nói: “Bây giờ chỉ có Trời cứu!” Có câu chuyện kể lại như thế này: Một người đi biển gặp cơn bão lớn ập đến. Người ấy sợ quá, la lên: “Trời ơi, cứu tôi với!” Cuối cùng, anh ta thoát nạn. Anh ta thở phào một cái và nói: “Mô Phật!” Rõ ràng là anh ta đã kêu Trời cứu, vậy mà khi được cứu, anh ta lại cảm ơn Phật. Thật vô lý! Đạo Phật và đạo thờ cúng ông bà hoàn toàn không phải là đạo của người Việt chúng ta lúc ban đầu. Đạo Phật đến từ Ấn Độ, du nhập vào Tàu (Trung Quốc). Giặc Tàu đô hộ chúng ta 1.000 năm và tìm mọi cách để đồng hóa người Việt, gây ra bao nhiêu tang thương, chết chóc, khốn khổ. Họ truyền bá đạo Phật, đạo thờ cúng ông bà, và đủ thứ tệ nạn mê tín dị đoan trong đất nước chúng ta. Ngay cả tết cổ truyền của chúng ta cũng là của người Tàu, tục lì xì cũng là của người Tàu… Cho đến tận hôm nay, họ vẫn tìm mọi cách tấn công, phá hoại người Việt chúng ta, và chưa bao giờ từ bỏ ý đồ xâm lược. Lẽ nào chúng ta đã biết mình bị lừa dối mà cứ lầm lũi bước đi theo những kẻ đã làm khốn khổ dân tộc chúng ta bao đời nay sao???

Trong khi nhiều người Việt bị lừa dối như vậy, cho đến ngày hôm nay, ở Ấn Độ, cái nôi của đạo Phật, mấy trăm triệu người đã tỉnh ngộ và mở lòng ra tiếp nhận Chúa Jesus. Ở Trung Quốc cũng vậy, mấy trăm triệu người đã dâng lòng mình cho Chúa Jesus, và họ phản đối những mưu đồ xâm lược của chính quyền Trung Quốc đối với Việt Nam và các nước khác. Số người tin Chúa Jesus ngày càng gia tăng nhanh chóng. Ở Hàn Quốc, một đất nước trước đây toàn là chùa chiền, đền miếu, ngày nay nhà thờ Tin Lành mọc lên khắp nơi. Họ có núi cầu nguyện, có nhà thờ Tin Lành lớn nhất nhì thế giới, và đương kim tổng thống cùng với một số quan chức nhà nước cũng là những người tin Chúa Jesus. Từ khi Tin Lành đến với những đất nước này, họ đã trở nên ngày càng cường thịnh, văn minh. Đức Chúa Trời đã ban phước cho họ, vì qua Kinh Thánh, Ngài hứa rằng: “Quốc gia nào có Giê-hô-va làm Đức Chúa Trời mình, dân tộc nào được Ngài chọn làm cơ nghiệp mình, được phước vô cùng!” (Thi Thiên 33:12)

Tại quê hương Việt Nam của chúng ta ngày nay, Tin Lành đã được rao truyền từ Bắc chí Nam, và nhiều triệu người Việt Nam đã mở lòng ra đón nhận. Đặc biệt, nhiều gia đình cán bộ, quan chức các cấp khác nhau đã chứng kiến quyền phép chữa lành, giải cứu kỳ diệu của Chúa Jesus khi họ đi đến bước đường cùng và đành phải mang những đứa con nghiện ngập ma túy nghiêm trọng, thậm chí nhiễm HIV, của mình đến nhờ Hội Thánh Tin Lành cầu nguyện. Nhiều thanh niên nghiện ngập khét tiếng một thời trong số đó hiện nay đã trở thành những người mà Đức Chúa Trời dùng để giúp đỡ rất nhiều thanh niên hư hỏng khác giống như họ trước đây và được nhà nước ủng hộ, tuyên dương. Thật là những bằng chứng sống tuyệt vời và đầy sức thuyết phục, khiến người ta có muốn không tin cũng không được! Cảm tạ Chúa!

Bạn thân mến, dù bạn có tin hay không thì Đức Chúa Trời vẫn đang hiện diện theo cách mà bạn không thể chối cãi được. Có lẽ bạn sẽ nói rằng: “Vì tôi không thấy Đức Chúa Trời nên tôi không tin!” Bạn ơi, tôi có thể chứng minh cho bạn vô số những điều mà mắt thường của bạn không thấy được, nhưng bạn không thể chối cãi rằng chúng đang hiện hữu. Ví dụ, bạn có thấy gió không? Gió màu gì, hình dạng như thế nào? Rõ ràng là bạn không thấy, nhưng chắc chắn bạn biết rằng có gió. Gió thổi bay những chiếc lá, gió thổi tung những mái nhà… Bạn có thấy dòng điện không? Màu đen hay màu trắng, vuông hay tròn? Bạn không thấy, nhưng bạn có dám tuyên bố rằng không có dòng điện không? Nếu bạn cứ cố chấp mà nói như vậy, hãy đưa ngón tay ướt của bạn vào ổ cắm điện đi, bạn sẽ lập tức nhận được câu trả lời chính xác! Có trí khôn không bạn? Nó màu gì, nặng bao nhiêu? Bạn không thấy, nhưng bạn có dám nói rằng không có trí khôn không? Nếu bạn nói như vậy, mọi người sẽ cho bạn là người bị bệnh tâm thần! Có tình yêu không? Không ai nhìn thấy tình yêu, nhưng ai cũng tin rằng tình yêu đang hiện hữu, vì nếu không có tình yêu, con người chúng ta chẳng hơn gì thú vật!

Cũng vậy, không phải vì chúng ta không nhìn thấy Đức Chúa Trời bằng mắt thường của mình mà lại cho rằng Ngài không hiện hữu để rồi khước từ, không chịu tin Ngài. Toàn cõi thiên nhiên minh chứng cho sự hiện hữu của Ngài, và chính sự có mặt của bạn trên đời này cũng chứng minh cho điều đó, vì Kinh Thánh chép rằng Ngài đã sáng tạo nên tất cả. Bạn nghĩ sao nếu mặt trời không bao giờ mọc? Bạn nghĩ sao nếu quanh năm suốt tháng chỉ có mưa? Sẽ như thế nào nếu một cơn bão diễn ra và không bao giờ kết thúc? Thế giới này sẽ ra sao nếu khí oxy và nước ngọt đột nhiên biến mất?… Ai đã tạo nên thiên nhiên và đang ngày đêm điều khiển mọi hoạt động của vũ trụ? Có phải bạn không? Có phải tổng thống Mỹ không? Có phải Đức Phật không? Có phải Khổng Tử không? Dĩ nhiên là không! Đó chính là Ông Trời, là Đức Chúa Trời toàn năng. Chỉ có Ngài mới làm được công việc vĩ đại như thế! Và Ngài đã cho chúng ta biết điều đó qua Kinh Thánh, tức là Lời của Ngài. Kinh Thánh chép: “Ban đầu, Đức Chúa Trời sáng tạo trời và đất.” (Sáng Thế Ký 1:1), “Đức Chúa Trời sáng tạo loài người theo hình ảnh Ngài.” (Sáng Thế Ký 1:27), “Đức Chúa Trời thấy mọi thứ Ngài đã tạo dựng thật rất tốt đẹp.” (Sáng Thế Ký 2:31), “Các tầng trời rao truyền vinh quang của Đức Chúa Trời, bầu trời bày tỏ công việc tay Ngài làm. Ngày này giảng về vinh quang của Đức Chúa Trời cho ngày kia, đêm này truyền tri thức của Đức Chúa Trời cho đêm nọ.” (Thi Thiên 19:1,2)

Ngoài ra, Đức Chúa Trời còn chứng tỏ sự hiện hữu đầy quyền năng của Ngài bằng cách đáp lời những người kêu cầu Ngài. Nếu một người không có mặt tại nơi mà bạn đang ở, bạn sẽ gọi hoài mà không thấy người đó trả lời. Cũng vậy, nếu bạn tin vào một vị nào đó đã chết từ lâu hoặc chưa bao giờ hiện hữu, bạn sẽ mất cả một cuộc đời để cầu khấn mà không bao giờ được đáp lời, có chăng cũng chỉ là vài trường hợp xảy ra một cách trùng hợp mà thôi. Bệnh tật, tai nạn, xung đột, khủng hoảng, nghèo đói…cứ tiếp tục đến với bạn, và bạn sẽ cảm thấy khốn khổ, bế tắc, chán nản, tuyệt vọng!

Tôi đã tận mắt chứng kiến Chúa chữa lành những người bệnh ung thư thời kỳ cuối qua lời cầu nguyện của những người tin Ngài. Tôi cũng đã thấy người điếc nghe được, người câm nói được, người què đi được… Tất cả đều đến từ lời cầu nguyện của những người tin nơi Đức Chúa Trời! Bản thân tôi cũng đã nhiều lần kinh nghiệm sự chữa lành kỳ diệu của Chúa khi tôi thành tâm cầu nguyện với Ngài. Ngài lắng nghe lời cầu nguyện của tôi và ban cho tôi một gia đình hạnh phúc, khỏe mạnh, một công việc tốt. Ngài cũng lắng nghe lời cầu nguyện của tôi và phù hộ cho cha mẹ, anh em, bạn bè, hàng xóm… của tôi nữa. Thật vậy, không ai có thể đưa ra bất cứ bằng chứng nào rằng Đức Chúa Trời không thật sự hiện hữu; chỉ có những người thích sống trong tội lỗi, cố tình khước từ Ngài mà thôi.

Còn bạn thì sao? Nếu bạn nói rằng: “Tôi lúc nào cũng cảm thấy bình an, hạnh phúc. Cuộc đời tôi thật tuyệt vời! Tôi chẳng tin rằng có Đức Chúa Trời, và tôi cũng chẳng cần Đức Chúa Trời nào cả!”, thì tôi sẽ không làm mất thì giờ của bạn nữa. Nhưng nếu bạn thừa nhận rằng tiền bạc, địa vị, danh vọng, quyền thế, sắc đẹp, tài năng…không thể đem lại cho bạn sức khỏe, sự bình an, và hạnh phúc thật; nếu bạn muốn kinh nghiệm tình yêu thương, sự tha thứ, và phước hạnh của Chúa, hãy lập tức tìm đến một nơi yên tĩnh và thưa với Chúa những lời này:

“Chúa Jesus ơi, con tin rằng Ngài là Đức Chúa Trời, Đấng đã tạo nên con từ trong lòng mẹ và yêu thương con. Con tin rằng Ngài đã chết thay cho con trên thập tự giá và Ngài đã sống lại, ban cho con sự sống đời đời. Con thừa nhận con là một tội nhân trước mặt Chúa, và con quyết định ăn năn tội lỗi mình. Cầu xin Chúa tha thứ cho con, khiến con được sạch tội bởi huyết của Ngài. Giờ đây, con mời Ngài ngự vào lòng con, làm Cứu Chúa và Chủ của con! Con quyết định từ bỏ mọi thần tượng lừa dối trước đây để chỉ thờ phượng một mình Ngài mà thôi. Xin cho con được tràn ngập Thánh Linh để con sống một cuộc đời mạnh mẽ, đắc thắng, làm vinh hiển danh Ngài! Con cảm ơn Chúa thật nhiều! Amen.”

Nếu bạn đã thật sự thốt lên những lời này bằng cả tấm lòng mình, tôi xin chúc mừng bạn! Bạn đã có một quyết định đúng đắn rồi đấy! Hãy chủ động liên lạc với Trạm HealtoSave (facebook) để được hướng dẫn những bước tiếp theo. Tất cả chúng tôi rất vui được đón tiếp bạn vào trong đại gia đình của Chúa Jesus. Cầu xin Chúa ban phước cho bạn cùng toàn thể gia quyến!

(Bạn có thể tham khảo những website hoặc facebook sau đây để tìm hiểu thêm về đạo Tin Lành:
mucsukhanh.comvietchristian.comhoithanh.comdainguonsong.com

Nếu có bất cứ thắc mắc nào, bạn có thể trình bày trong mục Tin Nhắn của Trạm HealtoSave, sẽ nhận được lời giải đáp thỏa đáng.)

          The Sword

 

A Silent Message For All Of Us!


me 9
Tulip Châu Sa

Jesus says in Matthew 18:8-9 (ESV):

“And if your hand or your foot causes you to sin, cut it off and throw it away. It is better for you to enter life crippled or lame than with two hands or two feet to be thrown into the eternal fire. And if your eye causes you to sin, tear it out and throw it away. It is better for you to enter life with one eye than with two eyes to be thrown into the hell of fire.”

We are living far away from the holy and infinitely perfect world that God has created.  I wonder how difficult it would be for us to live our lives without The Lord, Jesus Christ.   His words are strong guidance for us, especially for today’s struggles.  When I was watching “A Silent Message For All Of Us” (below), I thought about the series preachings from Dr. Erwin: “Unplugged”, then I thought to myself, “This is so true.  It’s a good reminder for myself.” 

I just want to take the liberty of Jesus strong words apply them to today’s world that we are living in its.  If my iPod, iPad (I do not have them-Thanks God!) cause me to sin, I would unplug it.  If I cannot use internet to benefit for my soul (and others) but causes me to sin, I would unplug it and never go online again. It is better for me to go without blogging than to be thrown into the eternal fire. If my smartphone (I do not have one-Thanks God!) causes me to sin, I would get a “dumb phone”(which I’m using 🙂 ).  It is better for me to go through life without status updates and instagramming my meals than be thrown into the eternal fire.  Amen!

A Silent Message For All Of Us!